ĐẠI THÀNH QUYỀN LUẬN

形意拳 - XingYi quan

ĐẠI THÀNH QUYỀN LUẬN

Gửi bàigửi bởi Quan » Thứ 3 28/02/12 21:50

ĐẠI THÀNH QUYỀN LUẬN (HAY CÒN GỌI LÀ “Ý QUYỀN”)
Tác giả: VƯƠNG HƯƠNG TRAI
Xin cảm ơn bạn Tuấn Anh, người đã mất công sức và tiền bạc để có bản dịch này. Theo cá nhân tôi, có lẽ do người dịch không phải là người luyện tập, nghiên cứu võ thuật, nên bản dịch có đôi chỗ chưa chính xác, tuy vậy bản dịch này vẫn rất có giá trị. Quân.

1. Luận điểm cá nhân

Vai trò quan trọng nhất của đạo quyền thực chất là giải quyết được nhu cầu tạo lập nền tảng tinh thần cho dân tộc, hình thành những kiến thức căn bản về việc lập quốc có tính chất học thuật, tạo nền tảng tư tưởng triết học nhân sinh, đồng thời đạo quyền còn được coi là huyết mạch của hệ thống giáo dục xã hội. Sứ mệnh của đạo quyền là phải giúp cho người học biết tu tâm và bày tỏ tình cảm, thay đổi tâm sinh lý theo chiều hướng có lợi, phát huy được ưu thế vốn có của mình, để tinh thần luôn minh mẫn và sáng suốt, cơ thể luôn khỏe mạnh, thể hiện được ý nghĩa ích nước lợi dân của đạo quyền, tuy nhiên thời gian đầu người ta không coi trọng việc truyền bá kỹ thuật ra đòn. Khi đã hoàn thành được sứ mệnh kể trên thì có thể gọi là “Quyền thuật”, nếu không thì bị coi là những điều dị đoan trái với chủ trương giáo nghĩa chính thống mà thôi. Luyện tập môn quyền lập dị giống như là uống phải thuốc độc, không thể diễn tả hết bằng lời về những tác hại của nó. Với mong muốn đem lại lợi ích cho bản thân và cho mọi người, cùng với tâm trạng luôn cảm thấy đau lòng cũng như không thể nhẫn tâm thờ ơ với những cảnh tai ương mà mình đã tận mắt chứng kiến, bằng những kinh nghiệm tích lũy được trong hơn 40 năm luyện tập võ đạo, học giả đã tích cực nghiên cứu và tìm hiểu ý nghĩa thực sự của đạo quyền, nguyên lý và quy tắc khoa học, tự mình thể nghiệm thực tế để có chứng cứ xác thực, loại bỏ những điều bất lợi, tạo ra bí quyết riêng, giảm bớt nhược điểm và phát huy sở trường, lấy mạnh bù yếu, loại bỏ sự giả tạo giữ lại sự chân thật sinh động, thể hiện được sự am hiểu đạo lý của nhiều phương diện, phát huy được thế mạnh, chính vì vậy mà môn quyền thuật này đã trở thành một trong những môn có sức hút đặc biệt nhất hiện nay, rất nhiều người theo học đã bày tỏ rằng họ cảm thấy rất vui, hạnh phúc và thoải mái khi luyện tập môn quyền thuật này. Chính cái tên “Đại Thành” đã thể hiện rõ đây là môn quyền của tất cả chúng ta, bởi tất cả những người theo học đều nói rằng họ cảm thấy hứng thứ với môn quyền này một cách hết sức tự nhiên, tuy nhiên đó chỉ là những điều chúng ta được nghe kể lại mà thôi. Nhìn vào tình hình thực tế hiện nay, có thể thấy người ta đã đánh giá môn quyền này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn luyện ý chí tinh thần, tình cảm vững bền, tạo sức mạnh tự nhiên cho con người. Nói một cách tổng thể thì môn quyền thuật này giúp con người thích ứng với môi trường xung quanh; Hay nói cách khác, là lấy nguyên tắc nguyên lý của vũ trụ làm gốc, nuôi dưỡng tinh thần viên mãn và cơ thể khỏe mạnh, tạo ý chí vững vàng, hư thực vô định, rèn luyện để có được bản năng xúc giác linh hoạt. Tuy nhiên, chỉ diễn tả bằng lời nói thì sẽ không thể thấy hết được sức mạnh tiềm ẩn, nhưng thể hiện bằng hành động thì chúng ta sẽ cảm nhận được ngay. Ở đây không bàn luận đến những nhà quyền thuật bình thường chỉ biết coi trọng hình thức và phương pháp, sử dụng đường quyền cứng nhắc và thô kệch. Thành thực mà nói do quá coi trọng hình thức và phương pháp, nên những nhà quyền thuật bình thường này đã diễn bài quyền với những động tác rườm rà, dị hình dị dạng, điều đó càng làm thêm tăng tính thô kệch, đối với môn vận động có tính quyết liệt cao mà người truyền dạy sai thì người học cũng sẽ tập sai theo, nhưng điều mà người ta không thể ngờ tới là chính sự vận động đó đã làm tổn thương cơ thể, có thể coi đó là hành động tự sát, bởi thần kinh - tứ chi - khí quản - cơ bắp sẽ bị hủy hoại dần dần, khiến cho người tập cảm thấy chán chường uể oải dẫn đến suy sụp tinh thần. Như vậy có thể nói là môn quyền đó đã hoàn thành sứ mệnh của mình hay không? Tuy nhiên, ở đây học giả không dám nói rằng học môn quyền này là thượng sách, nếu theo luận điểm hiện đại và của thời gian trước đây, thì cũng vẫn có thể khẳng định rằng đây là môn quyền hết sức độc đáo. Hơn nữa, so với thời đại trước thì kiến thức học thuật ở thời đại này đương nhiên phải được nâng lên một tầm cao mới, nếu không thì nó sẽ không thể tồn tại và phát triển được! Đó chính là cở sở để khẳng định rằng môn quyền này thích hợp với việc rèn luyện hệ thống thần kinh và tứ chi, giúp cho người tập có được trí lực dồi dào, bảo vệ và giữ cho cơ bắp luôn khỏe mạnh rắn chắc, khí huyết lưu thông, hô hấp tốt, hơi thở khỏe mạnh, từ đó dần dần tăng cường được sức khỏe, hiệu quả thực tế thể hiện ngay sau khi luyện tập. Về phương pháp học cách tập trung lấy sức lực thì bài viết này chỉ trình bày sơ qua (rậm lời). Tác giả của bài viết này cũng là người đã tham gia luyện tập quyền đạo. Do tuổi cũng đã cao, hơn nữa để đáp ứng như cầu tìm hiểu sâu môn quyền này, nên học giả đã cố gắng sưu tầm những kiến thức có nguy cơ thất truyền được ví như là những dấu chân chim hồng trên tuyết, cùng những ghi chép lộn xộn về những điều mà học giả đã học được thường ngày để viết thành bài này, với mong muốn mọi người sẽ dễ dàng tham khảo và lĩnh hội được những cái hay của môn quyền này. Ngoài ra, với tâm niệm học hỏi tìm tòi tri thức là trách nhiệm và tôn chỉ, những người có đức có tài trong nước đã rất tích cực chỉ bảo và đóng góp ý kiến đối với môn quyền này, hoặc họ đã trực tiếp đến tận nơi để truyền dạy những điều mình biết, bởi họ đều có chung một niềm say mê với với lĩnh vực này, tuy chỉ là một chút hiểu biết nông cạn nhưng họ cũng muốn góp sức mình để môn quyền này ngày càng được hoàn thiện hơn, hy vọng ngày càng có nhiều người theo học với tinh thần khiêm tốn học hỏi để có kiến thức phong phú hơn, một mặt tích cực tìm hiểu tường tận các vấn đề nan giải, mặt khác cố gắng phát huy hết khả năng vốn có của mình, và luôn hi vọng có thể cùng nhau nghiên cứu vào bất cứ thời điểm nào, để tìm tòi và đúc kết được những kiến thức cô đọng nhất, tạo nhiều phúc lợi và nâng cao trình độ thể dục thể thao cho mọi người dân, nếu không thực hiện được những mong muốn bức thiết này, thì họ cảm thấy công việc mà họ đã làm không giá trị gì cả. Tuy nhiên, nếu hiệu quả nâng cao không được như ý muốn thì cũng sẽ không làm ảnh hưởng đến tinh thần, hoặc làm giảm trí lực của thế hệ chúng ta. Môn học thuật này lấy tiêu chí nhân loại cùng sở hữu làm nền tảng căn bản, vậy thì làm sao mà có thể giữ bí quyết cho riêng mình? Cho nên học giả không sợ nội dung sơ sài, mà cố gắng tận dụng hết vốn kiến thức của mình để viết thành bài này. Tuy nhiên, do khả năng có hạn cho nên không thể trình bày được hết những nét đặc sắc tinh vi của môn quyền này. Hơn nữa, những ghi chép bằng tay khó có thể giúp cho người đọc hình dung được nội dung tỉ mỉ hàm chứa trong đó, với tâm niệm thuật lại chi tiết những điều mà mình suy ngẫm, mong mọi người đọc được một điều thì suy ngẫm ra thành nhiều điều (đọc ít hiểu nhiều). Ngoài ra, với tấm lòng thụ đạo hết sức chân thành cùng với sự nhiệt tình hứng thú hy vọng sẽ tránh được sự công kích của ngôn luận.
Hà Bắc – Bác Lăng, Vương Hương Trai.

2. Khái quát tình hình luyện tập quyền đạo

Trong những thế kỷ gần đây đại đa số người tập quyền luôn có ý phơi bày sự rắn chắc khác thường của cơ bắp để cho mọi người biết rằng mình là người biết chơi thể dục thể thao. Nhưng điều mà họ không ngờ tới là chính hiện tượng phát triển khác lạ đó đã gây trở ngại cho lĩnh vực y tế, và đối với những người hoạt động trong lĩnh vực này thì họ cho rằng môn quyền đó thực sự không có tác dụng gì hết, đây cũng là điều mà các nhà sinh lý học cấm kị nhất, họ coi sự vận động đó không có giá trị gì cả. Trong những năm gần đây, trên một số tờ báo đã đăng tải những bài viết chỉ trích vấn đề trên, tuy có một số bài viết của một số người hiểu lý lẽ thông thường bày tỏ sự đồng tình, xong đại đa số vẫn cho là dung tục ngu muội, nhẫn tâm gây ảnh hưởng xấu đến lý tưởng tốt đẹp, đặc biệt là nói liều, bêu xấu con người, không thể nói lên được sự thật, cuối cùng không trách khỏi sự chê trách của nhiều người. Nói chung từ trước cho đến nay học giả đã tích cực sưu tầm những kiến thức có nguy cơ bị thất truyền (tuyệt học) để mưu cầu phúc lợi cho nhân loại, chính những nhân sĩ luôn trung thành với tư tưởng chính thống và sự thông minh tuyệt đỉnh đã thông cảm với những hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội từ trước cho đến nay, mặc dù tiêu chuẩn thấp nhưng họ vẫn muốn xem nó sẽ tiếp diễn như thế nào. Vì sự tồn tại lâu dài của đạo quyền, họ thực sự không dám đề cập đến cái riêng mà chỉ hy vọng những người có đức có tài trong nước hiểu và đánh giá đúng về nó.
Đạo quyền được bắt nguồn từ việc áp dụng hình dáng và ý nghĩa tương tự với cách thức vật lộn đọ sức của loài cầm thù, nhưng đã được phát triển và tiến hóa dần, kết hợp sử dụng yếu tố tinh thần để thể hiện tất cả các mô phạm phép tắc chuẩn mực, vì vậy các kỹ thuật của môn quyền này cơ bản đã được hình thành ngay từ đầu. Tuy nhiên, các võ sư thời cận đại lại tạo hình không giống như vậy, họ phát triển môn quyền theo xu hướng có lợi cho tinh thần cũng như ý chí tình cảm của người tập. Theo cách nói của người xưa: “Dùng lực thì phải chậm rãi và chắc chắn, dùng ý thể hiện sự linh hoạt uyển chuyển”, vì vậy mà việc tìm tòi thử nghiệm thực tế để tạo ra nét tự nhiên là điều cần thiết phải làm. Tuy nhiên, dùng lực mà làm cho cơ bắp trì trệ không phát triển tốt, thì xương cốt của cơ thể cũng sẽ không linh hoạt, bởi vậy những người làm công tác y tế không hưởng ứng điều này. Về phương diện võ thuật mà nói, nếu dùng lực thì sẽ có lúc hết sức lực, dùng pháp tức là đã thể hiện hết thuật pháp, có phương pháp lại chỉ thể hiện cục bộ, vì vậy sau này người ta đã sáng tạo thêm, để chứng tỏ mình không học theo bản năng. Khi không thể thống nhất được tinh thần, mà lại không dốc được hết sức lực thì sẽ không thể làm theo cách hô ứng lực của vũ trụ, khi đó tinh thần của người tập bị hạn chế trong một phạm vi nhất định, động tác thể hiện trông giống như là giẫm chân tại chỗ và đang do dự không muốn tiến lên. Tuy nhiên, dùng lực vẫn được coi là cách đề kháng chống cự, mà sự đề kháng chống cự lại phát sinh khi sợ kẻ địch tấn công, như vậy khi không thể chấp nhận sự tấn công của đối phương, thì liệu bạn có thể không nghĩ cách tấn công đối phương hay không? Điều này cho thấy tác hại của việc chỉ dùng lực thực sự là rất lớn. Cho nên phải biết cách kết hợp sử dụng lực (sức lực) và ý (ý chí) cùng thời điểm để tạo ra một nguyên khí tốt cho bản thân, bởi đây là hai nhân tố căn bản bổ trợ cho nhau, dùng ý tức là dùng lực, bởi ý tức là lực. Tuy nhiên, không thể chỉ dùng lực để làm cho máu ngưng tụ ở các cơ bắp, mà phải biết dùng ý chi phối để tất cả các cơ bắp luôn ở trạng thái thả lỏng bình thường, nếu không làm được như vậy thì các cơ bắp của bạn mãi mãi sẽ không thể co về trạng thái tự nhiên được, khi đó bạn cũng sẽ không còn sức lực để giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Một khi không thể giữ được sức sống tự nhiên, thì việc tập dưỡng sinh hay ứng dụng các kỹ thuật khác cũng đều không có tác dụng. Bạn phải biết là ý chí được tạo ra bởi chính trạng thái tinh thần của bạn, sức lực cũng thay đổi theo ý chí, ý được coi như là “tướng soái” của lực, lực là “quân” của ý, khi ý căng lực giãn, cơ bắp được thả lỏng linh hoạt, dâu tóc mọc nhiều, thì sinh lực được coi là mũi nhọn tiên phong trong việc tạo ra những điều đó, tuy nhiên không phải tự nhiên mà trong ý lại có lực. Chính vì vậy mà hai mươi năm trước môn quyền này đã từng được gọi với cái tên “Ý quyền”, người xưa lấy chữ “Ý” để thể hiện thần sắc - tinh thần, tức là môn quyền này rất coi trọng trạng thái ý chí và tinh thần, bởi nó đã thức tỉnh rất nhiều người, bạn có thể xem hình thức là biết được nội dung (trông mặt mà bắt hình dong), giác ngộ được nhiều phương diện, đây chính là xu thế phát triển chính hiện nay, nhưng các võ sư bình thường lại hay quan tâm nhiều đến ý kiến cá nhân, có thể coi đây là một thói xấu lâu ngày khó sửa. Đại đa số không biết bình tĩnh xử lý vấn đề theo hướng lấy mạnh bù yếu, giảm bớt nhược điểm và phát huy sở trường, nghiên cứu thảo luận những vấn đề không đúng còn tồn tại, mà họ lại cứ bảo thủ giữ nguyên ý kiến của mình, vậy thì làm sao mà có thể làm được điều gì tốt hơn? Và như vậy thì họ sẽ không biết mình được cái gì và mất cái gì, đó thật sự là một điều đáng tiếc. Hơn nữa khi trí lực vẫn còn mà lại không cố gắng theo đuổi, thì sẽ khiến cho ý nghĩa chân chính của đạo quyền bị mai một theo, hy vọng
mong muốn chân thành của cá nhân người viết bài này như là một hồi chuông làm thức tỉnh tinh thần đã bị tê liệt, giúp họ lấy lại tinh thần, dũng mãnh hơn để tiếp tục tiến bước.

3. Luận về tín điều và quy tắc

Việc học quyền không chỉ góp phần rèn luyện tứ chi, mà nó còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa hết sức quan trọng. Xét về phương diện truyền thống, thì trước tiên người học phải có đức hạnh, tiếp theo là phải nghiêm túc tuân thủ các tín điều, ví dụ như: Tôn sư, kính trên, coi trọng tình thân, có hiếu đối với cha mẹ, tín nghĩa, nhân ái… Tất cả những đức tính này đều phải có ở người học. Ngoài ra, người học cũng cần phải có sự nhiệt thành của người hiệp khách khắc cốt ghi tâm lời dạy của phật, luôn có ý chí tích cực học hỏi mọi người, nếu như không có đủ điều kiện các điều kiện trên thì sẽ không được gọi là võ sư. Chí ít cũng phải có khí phách, tính cách thật thà chất phác, kín đáo thâm trầm, có tinh thần kiên nhẫn và quả quyết, biết bày tỏ tình cảm với mọi người xung quanh, có tư chất mẫn tiệp (nhanh nhẹn) và dũng cảm, đặc biệt là phải đáp ứng đủ điều kiện căn bản của người học, nếu không thì khó có thể được truyền dạy. Khi đã đáp ứng được điều kiện, thì việc truyền dạy theo trình tự cũng là một vấn đề tương đối nan giải. Trước đây, khi các bậc tiền bối truyền dạy cho một người, thì phải thận trọng xét đi xét lại, do nhân tài hiếm, nên họ không dám coi nhẹ vấn đề tuyển dụng. Theo trình tự truyền thụ, thì trước hết phải lấy tứ dung ngũ yếu làm gốc. ví dụ như: Đầu thẳng, mắt nhìn thẳng, thần thái trang nghiêm, tiếng tịnh, ngoài ra truyền bí quyết được cô đọng trong 5 chữ: “Kính – Thận – Ý – Thiết - Hòa”. Sau này 5 chữ này được viết thành bài ca với ý nghĩa như sau:
Tập quyền ký nhập môn, thủ yếu tôn sư thân, thượng hữu tu trọng nghĩa, võ đức canh cẩn tôn. (Khi đã muốn nhập môn quyền, thì trước hết phải biết đạo tôn sư, trọng tình thân, coi trọng tình nghĩa bạn bè, càng phải biết rèn luyện và giữ vững đạo đức tác phong của người theo học quyền đạo).
Động tắc như long hổ, tịnh do cổ phật tâm, cử chỉ nghi cung thận, như đồng hội đại tân. (Động tác như rồng hổ, tâm tĩnh như tâm phật, cử chỉ phải cung kính cẩn trọng)
Cung tắc thần bất tán, thận như thâm uyên lâm, giả tá vô cùng ý, tinh mãn hỗn nguyên thân. (Thể hiện sự cung kính từ đáy lòng, cẩn trọng như khi sắp đi đến gần vực sâu, nhưng bề ngoài lại phải vờ như không có ý gì, có tinh lực dồi dào nhưng lại phải giả vờ hồ đồ).
Hư vô cầu thực thiết, bất thất trung hòa quân, lực cảm như thấu điện, sở học dữ nhật thâm. (Tìm kiếm sự chân thực trong cái hư vô, trung hòa cân bằng các mặt, khả năng cảm nhận nhanh như luồng điện, đã chú tâm theo học thì nhất định sẽ có sự tiến bộ rõ rệt).
Vận thanh do nội chuyển, âm vận giống long ngâm, cung thận ý thiết hòa, ngũ tự bí quyết phân. (Chuyển đổi giọng nói từ bên trong, âm thanh ý vị giống như long ngâm, cung kính cẩn trọng để có sự thân thiết hòa thuận, thông hiểu bí quyết 5 chữ).
Kiến tính minh lý hậu, phản hướng thân ngoại tầm, mạc bị pháp lý câu, canh vật trung học nhân. (Khi đã có được các đức tính cần phải có và chân lý có liên quan, tiếp tục học hỏi người khác, tránh rơi vào vòng lao lý, càng không nên chấm dứt việc học hỏi người khác).

4. Luận về đơn trọng và không cứng nhắc mô phỏng

Ở đây chúng ta sẽ luận về nguyên tắc nguyên lý của đạo quyền, không bàn về những động tác luyện tập hàng ngày, mà chỉ đề cập đến những vấn đề nằm trong khuôn khổ của môn võ thuật, tức là cách giữ cân bằng cơ thể, không được tạo dáng lệch. Nếu có một số động tác hơi bị mất thăng bằng, thì tức là bạn đã cứng nhắc mô phỏng giống hình dáng thực tế, khi đó lực cũng bị phá vỡ. Tất cả những yếu tố: Thần – hình - lực - ý đều không được bắt chước phỏng theo y nguyên, một khi bạn đã bắt chước y nguyên thì chỉ mang tính chất phiến diện, như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của phương diện y tế, học giả nên ghi nhớ điều này. Bạn phải học cách lấy sự thăng bằng nhưng lại không được quá cứng nhắc. Hơi cứng nhắc thì lại dễ phạm phải bệnh “song trọng”, tất nhiên cũng không được phép quá linh hoạt, nếu quá linh hoạt thì dễ tạo ra vẻ bề ngoài hào nhoáng nhưng thực chất thì lại không có tác dụng gì, điều này được ví như là cây có hoa nhưng không có quả. Cụ thể là phải tạo cảm giác thư thái để thực hiện những động tác thay đổi thích hợp, khi tạo lực cũng không được phép làm gián đoạn điều này, như vậy thì lực sẽ không bị mất đi. Song trọng không phải chỉ có hai bộ phận chân, mà nó còn có ý nói đến các bộ phận như đầu - tay - vai – khuỷu tay - đầu gối – hông và các khớp lớn nhỏ đều có độ căng giãn khác nhau khi hơi có một chút lực tác động đến, đây chính là sự khác biệt của yếu tố hư thực. Ngày nay đại đa số các võ sư đều từ hướng đơn trọng phiến diện đi theo hướng song trọng tuyệt đối, tuy nhiên phương thức song trọng tuyệt đối dễ bị hủ bại. Còn đối với người học đơn trọng và song trọng, học càng lâu thì càng thấm. Nói về điều này, những bài luận do chính các võ sư ngày nay biên soạn cũng có chỗ chưa được thỏa đáng, huống hồ là tác giả, trong phần này tác giả chỉ muốn đề cập đến yếu tố lộ hình phạm quy mà làm phá hỏng cái cốt cách. Không nên cứng nhắc mô phỏng, bởi điều đó sẽ làm cho các động tác không có sự gắn kết với nhau, dù cho bạn biết sử dụng thành thạo bí quyết đơn trọng đi chăng nữa, nếu không có khả năng lĩnh hội hiểu ý thì cũng không khác gì việc bạn không biết cách sử dụng phương pháp song trọng. Nếu các động tác không được thực hiện một cách tự nhiên thì bạn cũng sẽ cảm thấy không thoải mái, xương cốt không linh hoạt, đây là điều không thể tránh khỏi khi áp dụng phương pháp cứng nhắc, bạn không thể tùy cơ ứng biến với mọi tình huống, hơn nữa lại không có phương hướng thay đổi, như vậy càng không thể phát huy được tác dụng như ý muốn. Khi bạn cho rằng mình đã thể hiện thần và ý hết sức tự nhiên, mà vẫn không ứng dụng được hết khả năng của xúc giác, thì vẫn không có đủ chứng cứ để chứng minh bạn đã thể hiện tự nhiên. Ví dụ khi hai bên quyết đấu, cái lợi cái hại sẽ thấy ngay trước mắt, nếu không cẩn trọng thì chỉ một chút sơ xuất nhỏ cũng sẽ gây ra tai nạn đáng tiếc, khi đã tiếp cận mà vẫn chưa có xúc giác, thì tất nhiên sẽ không thể ứng phó ngay được, sau khi giải quyết xong tình huống đó bạn cũng sẽ lại không biết lúc nào sử dụng động tác nào thì thích hợp, thì đó gọi là cách ứng phó tình huống tự nhiên, bản năng của bạn sẽ tự động bộc phát để giúp bạn ứng phó tình huống.

5. Thể nghiệm tính thực hư trong sự trừu tượng

Phương pháp nhập môn quyền chính xác được kết tinh trong quá trình vận dụng đồng nhất các yếu tố thần – hình – ý – lực. Loại hình vận dụng này áp dụng những thứ vô hình không thể nhìn thấy được cũng không thể nghe thấy được, vô hình còn gọi là vô tượng. Luận theo phương thức hữu hình thì thế của nó như là lá cờ bay phấp phới trong không trung, duy chỉ có lực của gió là có thể phát huy được tác dụng, hay còn gọi là sự ứng hợp với không khí; Lại ví như cá bơi ở những khu vực có sóng, bị sóng đánh nhấp nhô và mất phương hướng, lúc này cơ quan thính giác của nó đóng vai trò xúc giác để tìm cách bơi ngang hay bơi dọc. Một mặt cùng vận động theo sự vận động chung, mặt khác bình tĩnh ứng phó với tình huống bất ngờ. Phải lấy cái hư vô để suy đoán cái hữu hình, cũng có thể lấy cái hữu hình để phỏng đoán cái vô hình, nói theo cách nói của phật giáo “Vô vi mà lại hữu vi” (cứ để mọi việc thuận theo tự nhiên, không phải làm gì cả mà vẫn có triển vọng), “Vạn pháp giai không, tức là thực tượng” (trăm phương nghìn kế cũng như không, tức là cứ để hình ảnh thực). Ví dụ như khi tìm hiểu đầu mối câu chuyện về việc làm tranh của dòng tộc Hoàng Tân Hồng (Nghê Hoàng) thì được biết các nét vẽ thanh tú, ẩn chứa trong đó là sự nhẹ nhàng êm ái đặc biệt, tính cơ động và khả năng tạo hứng thú đều nằm trong cái thần thái vô hình đó, nhưng vẫn có thể cảm nhận được ý nghĩa của nó, cho nên khi tập mà đứng trước gương thao tác, thì e rằng bạn sẽ không tìm ra được các hình thái cần thiết, như vậy là ý nghĩa nội hàm không có mà thần thái cũng không còn.

Khi tập cần phải tưởng tượng là mình đang phải đối đầu với kẻ địch ở trong một khoảng không gian chỉ vẻn vẹn có 3 thước ngoài 7 thước trong, xung quanh có nhiều lưỡi gươm đao của kẻ địch, hoặc tưởng tượng ra cảnh đang có con rắn độc bò đến nên mình phải có khí phách dũng cảm, không được sợ hãi để có thể ứng phó kịp thời, cầu cái thực trong cái hư để có thể sinh tồn. Khi có nhiều kẻ địch, thì nên cầu cái hư trong cái thực, muốn làm được như vậy thì hàng ngày phải tích cực luyện tập và thể nghiệm, phải có khả năng kiềm chế tình cảm. Nói tóm lại, phải luôn có tinh thần và ý chí xung mãn, đồng thời phải biết cách thoát khỏi tất cả yếu tố làm bạn phân tâm.

Bạn phải nhớ kỹ là khi tập thì phải tập từ từ, nhưng tinh thần thì lại phải có sự nhạy bén, đối với một số động tác lấy sức, vừa biết cách tính toán cụ thể vừa phải biết cách ứng phó kịp thời, trong ngoài phải có sự liên kết với nhau, tính chất hư thực bổ trợ cho nhau, nhưng tất cả đều phải nhất quán. Lúc nào cũng phải có tinh thần ứng phó tốt, thì sự nhạy bén của bạn cũng sẽ được rèn luyện và khi cần thiết nó sẽ bột phát một cách tự nhiên. Khi mới học, cần phải học cách đứng thẳng như cột, dần dần chuyển sang luyện tập những động tác tiếp theo. Nói tóm lại thần – hình – ý và lực phải tạo thành một thể nhất quán, đồng thời cũng phải kết hợp tứ tâm (đỉnh tâm, bổn tâm, thủ tâm, túc tâm), thần kinh thống nhất, động mà như không động (khi mới vận động phải đem lại cái cảm giác như không vận động), phải cẩn trọng không để gây ra tình trạng không hòa hợp, tứ chi xương cốt cũng cùng vận động, cho nên không được thực hiện động tác quá câu nệ, cũng không được dừng lại đột ngột, mà phải tiếp tục kết hợp chặt chẽ với bầu không khí xung quanh, phát huy tác dụng của yếu tố căng chùng ở các động tác lấy sức. Tất cả những yếu tố này bạn hoàn toàn có thể thực hiện được (ngõ hầu có thể thực hiện được).

6. Nguyên tắc chung

Quyền bổn phục ưng, linh không tùng đằng, bình dị cận nhân, lý thú tùng sinh. Nhất pháp bất lập, vô pháp bất dung, quyền bổn vô pháp, hữu pháp dã không (Đạo quyền vốn dĩ được nhiều người quan tâm, bởi nó đem đến cho người ta sự linh hoạt và dẻo dai, tạo được vẻ hiền hòa dễ gần, tinh thần và lý trí tràn đầy, nếu chỉ có một cách thì không tồn tại lâu được, nhưng cũng còn hơn là không có cách gì,
đạo quyền vốn vô pháp mà lại như có pháp).

Tồn lý biến chất, đào dã tính linh, tín nghĩa nhân dũng, tất tại kỳ trung. Lực nhậm tự nhiên, kiểu kiện do long, tổ nạp linh nguyên, thể hội công năng (Luôn có lý trí thay đổi, dốc hết sức tôi luyện tinh thần – tính tình – tình cảm, sống nhân nghĩa, hòa nhã và có uy tín. Sức mạnh sẽ đến tự nhiên, khỏe mạnh cường tráng như long thần, phản ứng nhanh nhạy, thể hiện được công năng).

Bất tức bất ly, lễ nhường kiêm cung, lực hợp vũ trụ, phát huy lương năng. Trì hoàn đắc khu, cơ biến vô hình, thu thị thính nội, rèn luyện thần kinh. (Không thân cũng không sơ, phải nhường nhau theo lễ nghi, tỏ sự khiêm tốn và cung kính, hòa mình với trời đất, phát huy năng lực. Ứng biến vô hình, nghe nhìn và suy xét, rèn luyện thần kinh).

Động như nộ hổ, tĩnh tự triết long, thần do vụ báo, lực nhược tê hành. Súc linh thủ mặc, ứng cảm vô cùng. (Khi ở trạng thái động thì có khí thế bừng bừng dữ dội, khi ở trạng thái tĩnh thì như rồng ẩn, thần như báo beo, lực mạnh như con tê giác. Tích trữ và nuôi dưỡng tính linh,
giữ cho tâm can luôn bình thản, sẽ có khả năng cảm ứng vô cùng).

7. Bài ca về bí quyết (dịch sang âm hán việt)

Có rất nhiều phương pháp được người xưa viết thành bài ca, để làm công cụ truyền dạy, có sự lược bớt hoặc thay đổi tuy nhiên vẫn giữ được ý chính, sau khi biên tập bài ca về bí quyết đặc biệt này, tôi xin cung cấp để học giả tham khảo:

Quyền đạo cực vi tế, vật dĩ tiểu đạo thị, khai bích thủ trọng võ, học thuật thủy vu thử.
Đương đại đa thất truyền, hoang đường vô biên tế, quyền đạo cơ phục ưng, vô trường bất hội tập.
Thiết chí xướng quyền học, dục phục cổ nguyên thủy, minh tâm cứu lý tính, kỹ kích nãi kỳ thứ.
Yếu tri quyền chân tủy, thủ do chiến trang khởi, ý tại vũ trụ gian, thể nhận học thí lực.
Bách hài xanh quân hằng, khúc chiết hữu diện tích, phỏng phất khởi vân đoan, hô hấp tịnh trường tế.
Thư thích canh du dương, hình tượng nhược phong trí, tuyệt duyên bính tạp niệm, liễm thần thính vi vũ.
Mãn thân không linh ý, bất dung niêm hào vũ, hữu hình tự lưu thủy, vô hình như đại khí.
Thần miên do như túy, du nhiên thủy trung dục, mặc đối hướng thiên không, hư linh tu định ý
Hồng lư đại dã thân, đào dung vật bất kế, thần cơ tự nội biến, điều tức thính tịnh hư
Thủ tịnh như sở nữ, động tự triết long cử, lực tùng ý tu khẩn, mao phát thế như kích
Cân nhục tù dục phóng, chi điểm lực cổn ti, la hoàn lực vô hình, biên thể đàn hoàng tự.
Quan tiết nhược cơ luân, sủy ma ý trung lực, cân nhục tự kinh sà, lữ bộ phong quyển tịch.
Tòng hoàng khởi cự ba, nhược kình du hoàn thế, đỉnh thượng lực không linh, thân như thằng điếu hệ.
Lưỡng mục thần ngưng liễm, lưỡng nhĩ thính tịnh cực, tiểu phúc ứng thường viên, hung gian vi hàm súc.
Chỉ đoan lực thấu điện, cốt tiết phong lăng khởi, thần thái tự viên tiệp, túc đạp như miêu cự.
Nhất xúc tức bạo phát, tạc lực vô đoạn tục, học giải mạc hiếu kỳ, bình dị sinh thiên thú.
Phản anh tầm thiên lại, khu nhu tự đồng dục, vật vong vật trợ trường, thăng đường tiệm nhập thất.
Như nhược luận ứng địch, quyền đạo vi mạt kỹ, thủ tiên lực quân chỉnh, khu nữu bất thiên ỷ.
Động tĩnh hỗ vi căn, tinh thần đa ám thị, lộ tuyến đạp trọng tâm, tùng khẩn bất hoạt trệ.
Hoàn chuyển cẩn ổn chuẩn, câu thác hỗ dụng nghi. Lợi độn trí hoặc ngu, thiết thẩm đối phương ý.
Tùy khúc hốt tựu thân, hư thực tự chuyển dịch, súc lực như cung mãn, trước địch tự điện cấp.
Ưng thiêm hổ thị uy, túc oản như đâu nê, cốt lạc dữ long tiềm, hỗn thân tận tranh lực.
Súc ý khẳng nhẫn ngoan, đảm đại tâm canh tế, phách triền toàn quả hoàng, tiếp xúc sủy thời cơ.
Tập chi nhược hằng cửu, bất kỳ tự nhiên chí, biến hóa hình vô hình, chu hoàn ý vô ý.
Sất trá tẩu phong vân, bao la tiểu thiên địa, nhược tòng tích tượng sánh, lão trang dữ phật thích.
Ban mã cổ văn chương, hữu quân chung trương tự, đại lý vương duy họa, huyền diệu tương tự.
Tạo nghệ hà năng nhĩ, thiện dưỡng ngô hạo khí, tổng chi tận trừu tượng, tinh thần tu thiết thực.

8. Các bước luyện tập

Bước luyện tập căn bản nhất của môn quyền này là tập đứng ngay thẳng như cột. Môn quyền này có tác dụng đối với việc rèn luyện hệ thống thần kinh, điều chỉnh hô hấp, lưu thông mạch máu, thư thái cơ bắp, đó cũng là một trong những cách dưỡng sinh để có trí lực khỏe mạnh, hay còn gọi sự vận động để có được cuộc sống thoải mái nhất. Tiếp theo là học cách thử lực, thử tiếng, thể nghiệm sự hô ứng không khí với sự căng chùng của lực, cách nhận biết được khả năng của mình, các quy tắc cần thiết về sự tương trợ giữa yếu tố hư và thực. Cuối cùng là học để tự vệ. Trình tự các giai đoạn được trình bày ở phần dưới đây.

 Đứng thẳng như cột

Đứng thẳng như cột tức là trạng thái đứng phải bình ổn và thăng bằng. Bước đầu tiên là phải học cách đứng cơ bản giống như cái cột. Khi tập trước hết phải kết hợp bố trí toàn bộ bố cục làm sao cho thỏa đáng, phải tạo cảm giác vững vàng từ bên trong, đầu thẳng, mắt nhìn thẳng, thân hình ngay ngắn, đỉnh thẳng, thần thái nghiêm túc, lực đều, khí tĩnh, thở bình, biết nghĩ xa, eo lưng thả lỏng, các khớp hơi cong một chút, gạt bỏ các mối ưu tư, giữ trạng thái tinh thần thanh thản, không để cho đối phương đoán biết được mình đang nghĩ gì, mà cũng không để yếu tố ngoại cảnh gây tác động bất lợi đến mình, tạo tư thế thoải mái, giống như là ngọn cây quý hiếm vươn mình đến tận mây xanh, tạo cảm giác du dương êm ái, ví như là đang bơi trong không khí. Sau đó tiếp tục thể nghiệm được cảm giác xao động của các tế bào cơ bắp, tức là việc rèn luyện đã có tác dụng, và tự cảm nhận đó là sự hoạt động bình thường. Nói về việc thay đổi sinh lý, nếu luyện tập đúng cách thì có thể làm cho những người bị mắc chứng thiếu máu được tăng thêm máu, người bị huyết áp cao thì có thể hạ được huyết áp mà vẫn có cảm giác khỏe mạnh bình thường. Nhịp tim cũng bình thường, có thể làm việc được bình thường. Về phương diện tinh thần, nếu bạn cảm thấy mình như đang ở trong lò luyện kim, thì khi đó bạn hãy cố gắng làm sao để mình có cảm giác không bị nung chảy. Để nhận biết được các tế bào vẫn đang bình thường, thì bạn không được phép miễn cưỡng luyện tập, càng không được có ảo tưởng. Nếu thực hiện theo cách rèn luyện trên thì cơ bắp của cơ thể tuy không được rèn luyện trực tiếp, nhưng vẫn có thể tự rèn luyện, thần kinh không được dưỡng mà vẫn có thể tự dưỡng, tạo cảm giác thoải mãi dễ chịu, vì vậy mà khí chất cũng được thay đổi dần dần, sức mạnh bản năng sẽ tự bộc phát ra ngoài. Nhưng điều mà bạn phải nhớ kỹ là thể xác và tinh thần không thể dùng lực, nếu không thì hơi có hiện tượng bị xung máu, mất cảm giác thả lỏng. Nếu không được thả lỏng thì khí sẽ ngưng trệ dẫn đến mất lực và khí thế, toàn thân uể oải. Nói tóm lại bất kể là đứng thẳng, thử lực hay thực hiện kỹ thuật ra đòn tấn công, một khi thở không bình thường hoặc có cảm giác căng thẳng thì dễ thực hiện động tác sai. Vì vậy người muốn học quyền phải thận trọng khi thực hiện các động tác.

Thử lực

Sau khi luyện tập được bước cơ bản trên đây tức là bạn đã có nền tảng tương đối, đó là điều kiện để bạn phát triển tất cả khả năng của mình, bạn phải tiếp tục học cách thử lực và có tinh thần thể nghiệm các động tác tạo sức lực, để có được hiệu quả chân thực. Phần luyện tập này là điều quan trọng nhất và cũng là công việc khó khăn nhất của bộ môn quyền này. Thử lực là tạo nguồn lực cho bạn, lực thử sẽ được sử dụng vào những lúc cần thiết. Khi tập phải giữ cho thân mình luôn thăng bằng, cơ bắp linh hoạt. Thực hiện động tác phải có thần thái, chậm tốt hơn nhanh, chậm sẽ thắng nhanh, tạo cảm giác muốn hành động nhưng lại không hành động, hoặc ngược lại, có cảm nhận nhạy bén ở mọi lúc mọi nơi, toàn thân có thể ứng hợp được với lực của vũ trụ. Khi muốn ứng hợp với lực của vũ trụ, thì trước tiên phải cảm nhận được bầu không khí, sau khi cảm nhận được thì từ từ hô ứng, tiếp theo là thử khí, để phát huy tác dụng tạo khả năng tranh đấu từ trong nội tâm. Khi tập cần phải thể nghiệm trở lực của không khí xem nó như thế nào, tức là phải học cách tạo sự ứng hợp để có sức mạnh tương đương với trở lực. Khi mới thử tập thì tập bằng tay, dần dần tập toàn bộ các bộ phận có liên quan để có thể nhận biết được loại lực này, khi đó khả năng tiềm ẩn sẽ dần dần được bộc lộ, nếu kiên trì tập thì sẽ có hiệu quả kỳ diệu mà bạn không thể ngờ tới. Hơn nữa bạn sẽ dễ dàng tập được các đường quyền khác để tạo sức mạnh. Ý chí không được để gián đoạn, tinh thần không được để phân tán, toàn thân từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ trước ra sau đều phải nhớ giữ ở thế có thể phát huy được tác dụng, như vậy sẽ dễ dàng có được sức mạnh cần thiết. Động tác thử lực có rất nhiều tên, ví dụ như: Súc lực, đàn lực, kinh lực, khai hợp lực, và các loại sức lực như: Trọng tốc, định trung, triền miên, xanh bão, tam giác... Đồng thời phải chú ý tất cả các khớp không được để ở thế cong gập, cũng không được để phóng túng. Lực của quyền đều là sự thể nghiệm của tinh thần. Nói tóm lại kết quả của sự tương hỗ giữa sự vận động của cơ bắp và tinh thần là sức lực, nó có mối quan hệ liên đới mật thiết với nhau, nếu phân tách ra thì phương pháp thực hiện sẽ là phiến diện.

Tóm lại, mọi sức mạnh đều là sự tập hợp thống nhất và là sự kết hợp chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài của tinh thần để đưa vào vận dụng. Nếu đem tách riêng ra, thì nó sẽ trở thành một dạng quyền đạo trống rỗng như một cỗ máy chỉ còn cái vỏ bên ngoài mà các bộ phận bên trong thân máy đã bị hư hỏng. Hay nói cách khác là quyền thuật không mang ý nghĩa tinh thần. Theo kinh nghiệm hành nghề hơn bốn mươi năm của bản thân, tôi cảm nhận sâu sắc rằng mọi nguồn sức mạnh đều được sản sinh ra từ cái hồn nguyên thủy, và nó được phát triển mở rộng không ngừng, có thể trong khoảng không gian vô tận không cảm nhận được sự tồn tại của ta, nhưng trong khoảng không gian hỗn lại có thể nhận thức dần dần qua từng khái cạnh vô cùng nhỏ bé, từ đó thu được kết quả. Đó cũng là điều giúp tôi ngộ nhận ra, mọi thứ học thuật hầu như đều tồn tại sự mâu thuẫn với nhau, hơn nữa cũng không có loại học thuật nào được coi là trọn vẹn. Phải xóa nhòa mâu thuẫn thì mới giao lưu được với nhau, như vậy có thể tiến hành hợp tác phân công thực hiện, nếu không sẽ rất khó nắm bắt được chân lý. Còn về cách thức vận dụng sức mạnh, bí quyết để thống nhất, hoàn toàn không được quyết định bởi hình thức tốt hay xấu, tư thế phức tạp hay đơn giản, mà phải được chi phối dẫn dắt bởi ý nghĩa về mặt chi phối tinh thần, và mọi mặt công việc bên trong bên ngoài phối hợp ra sao. Khi làm động tác, về mặt hình thức bất luận là xuất ra một thu về hai, cùng xuất ra hết chỉ thu vào một, tiến ngang đánh dọc, đánh chính diện hay bên cạnh sườn, trên toàn thân chỗ nào cũng được coi là trọng điểm, trong đó có tất cả các quy tắc về diện và tuyến, mọi chi tiết đều được dự báo trước, phân biệt rõ đòn nặng đòn nhẹ, miếng chặt miếng lỏng, có điều không được biểu lộ ra trên nét mặt, dùng sức không có trọng điểm và cũng không bị ngắt quãng, càng không thể gây ra cảm giác nặng nhẹ, cho dù là đòn dứ hay đòn thật, tất cả đều phải duy trì toàn cơ thể buông chùng và xúc tích, ngoài ra còn phải duy trì tốt khả năng nghe trong lúc chờ đối phó sự van chạm, đồng thời tâm trạng cũng phải hướng nội, gân cốt sẵn sàng phản ứng. Cố gắng tạo ra một khoảng không gian đảm bảo khoảng cách ba thước xung quanh cơ thể, trong phạm vi khoảng không gian đó, ngỡ như được bố trí đầy đao kiếm đan chéo vào nhau, có hàng vạn mũi tên sẵn sàng phóng đi bất kỳ lúc nào, tất cả đều được thể hiện trên sự vận chuyển co duỗi của cơ bắp gân cốt và râu tóc, quan sát trên toàn thân thì sẽ thấy

bất kỳ bộ phận nào cũng tạo ra được cảm giác sức mạnh cuồn cuộn tuôn trào, không để lộ kẽ hở nào, ở đâu cũng tràn đầy sức lực có thể vận dụng, mô tả thì có vẻ rườm rà, nên không nói nhiều, người học sẽ vận dụng tâm trạng để nhận biết. Nếu như cơ thể thu nhận được các nguồn lực nói trên, cũng đừng lầm tưởng rằng sự nghiệp học quyền đã đến hồi kết, thực tình chỉ mới được trang bị một chút vốn liếng ban đầu, điều đó chứng tỏ rằng bạn đã có đủ điều kiện và khả năng để học quyền. Nếu như bạn đã nắm được bí quyết điều phối kết hợp hài hòa cân đối giữa lên gân với thư giãn, giữa hư và thực, biết điều chỉnh các trạng thái một cách thỏa đáng, thì cũng chưa thể được coi là tinh thông võ thuật, bởi nếu chưa từng trải trận mạc, chưa giao tranh nhiều với kẻ thù, thì coi như chưa học đến nơi đến chốn. Muốn đạt đến trình độ đỉnh cao của sự thông thái, phong độ hơn người, đòi hỏi công lực phải thuần khiết đến mức không cần phải suy nghĩ, cũng chẳng phải đắn đo cân nhắc, muốn làm thế nào cũng giành được phần thắng về mình. Nếu chẳng hiểu biết mà liều lĩnh hành động, thì đó chỉ là sự vận dụng sức mạnh theo bản năng mà thôi. Nói đến chi tiết dùng sức cụ thể thì điều cần kiêng tránh là ra đòn vu vơ không xác định mục tiêu, tuy vậy cũng không hoàn toàn phủ nhận tác dụng của những miếng đòn vu vơ, nếu không có nó thì lại rất khó đạt đến mức độ kỳ diệu.

 Thử tiếng

Thử tiếng nhằm hỗ trợ khi thử sức nhỏ yếu chưa đạt yêu cầu, hiệu lực của thử tiếng là nhờ sóng âm kích thích đến toàn bộ hoạt động của tất cả tế bào bên trong cơ thể, bản thân không bị đe dọa, ngược lại đối thủ nghe thấy lại cảm thấy khiếp sợ vô cùng, bởi vì tiếng và lực cùng phát ra trong một thời điểm khác với tiếng thét nhằm làm cho đối thủ hoảng sợ ở chỗ khi thử tiếng thì hơi thở trong miệng không được đẩy ra ngoài, mà vận dụng âm thanh để chuyển hóa trong nội tại thành công lực. Lần thử ban đầu cần phát ra tiếng, dần dần từ chỗ phát ra tiếng biến đổi thành không phát ra tiếng. Tiếng nói của mỗi người một khác, nhưng khi thử tiếng thì ai cũng giống nhau, tiếng đó nghe như chuông dóng trong khe núi. Người xưa nói: “Thử tiếng ví như cái gốc trong các cung bậc âm thành của chuông vàng, không thể dùng ngôn ngữ bút mực để mô tả hình dung, người học quyền phải thông qua quan sát thần thái, suy ngẫm đạo lý, nghe ngóng âm thanh, đoán biết ý tứ, cuối cùng là thử cảm nhận trạng thái sức mạnh ẩn chứa bên trong để lĩnh hội”.

9. Tự vệ

Tự vệ chính là sự vận dụng kỹ thuật để chống trả, bạn cần phải nhớ rằng đôi khi hiệu quả của động tác lớn không bằng động tác nhỏ, và hiệu quả của động tác nhỏ thì lại không bằng không làm động tác gì, như vậy bạn phải hiểu rằng không làm động tác gì mới được coi là động tác liên tục mạnh mẽ nhất. Ví như chiếc bánh xe hay đồ chơi con quay của con trẻ, nó quay nhanh đến mức tưởng như đứng yên một chỗ. Khi quan sát đối phương ra đòn, thì mình không ra đòn, có nghĩa là không biểu hiện sức mạnh. Cái gọi là không ra đòn tức là cách ra đòn nhanh nhất, hay nói cách khác là ra đòn cực nhanh giống như không ra đòn, biết cách kết hợp giữa đánh và dừng sẽ cho ta thấy hiệu quả vận dụng hết sức kỳ diệu, đa phần các động tác đều do thần kinh chi phối, ý niệm dẫn dắt, sức bật của hơi thở, thế vững chãi của cơ thể, ứng biến của miếng đánh, thay đổi của trọng tâm. Tất cả đều là những giải pháp hay, nếu được vận dụng một cách linh hoạt và thỏa đáng, thì đó sẽ là gốc rễ cơ bản của việc chống trả tự vệ. Ngày thường bạn cần thường xuyên luyện tập vung tay đá chân để chuẩn bị cho những lúc cần ứng phó mau lẹ, cần cảm nhận và lĩnh hội được thật nhiều từ thế giới trống không xung quanh nhưng lại mang đầy vẻ huyền bí, đó là những kiến thức đáng quý. Trong cách đánh của người học quyền, cho dù chưa đủ độ chín, thì vẫn phải kinh qua những trình tự cần thiết, nếu gặp phải đối thủ chậm chạp căng thẳng, thì bạn sẽ thấy biểu hiện đó lộ rõ ở trọng tâm, vị thế, miếng đánh, điều này không cần phải bàn cãi. Nếu động tác mau lẹ, nhưng tư thế cơ thể không vững chãi, rất giống như loài khỉ vượn, không thể đánh giá kẻ đó đã hội tụ đủ toàn bộ công lực, nếu bạn muốn có tốc độ ra đòn nhanh chóng, khiến người bình thường nói chung không kịp ứng phó, thì thường ngày phải dày công nghiên cứu về cách đánh. Trong quá trình học, trước hết hãy rèn luyện cho phần bụng dưới chắc nịch, phần mông vững vàng, rèn tập những thế đánh giành riêng cho đầu, tay, vai, cánh tay, đầu gối, háng với những miếng đánh như đấm, móc, đè, gánh, cưa, cắt, bóp, vuốt, chồng chéo, bó, dẫm, đạp, chắn, đẩy, giật, cuộn, chống đỡ, trượt, bám, bước xoay tròn, bước dẫn tiến, bước tiến, bước lùi, bước thuận, bước ngang, bước đủ, bước nửa, bước chéo, đánh chính diện, bước chính diện, đánh chéo sườn, đánh toàn diện, đánh từng phần, đánh cuốn chiếu từ trên xuống, đánh từ hai bên, từ trong ra ngoài, từ trước vòng ra sau, khi ngừng đánh thì ý thức cảnh giác vẫn thường trực, ý thức cảnh giác tạm nghỉ thì thần thái vẫn phải luôn sẵn sàng. Khi vận động, khi nghỉ yên, những đòn đã đánh và những đòn đang chờ thời cơ, những đòn đánh lừa, tất cả những phần đó nếu không được thực tập, thì sẽ không dễ tiếp thu được, trước sau vẫn chưa đạt đến độ chín, người thông minh hiểu biết rộng thì không cần phải nói nhiều vẫn có thể hiểu được điều này.

10. Thế đứng khi ra đòn

Thế đứng khi ra đòn và thế đứng cơ bản về mặt hình thái hơi khác nhau, tuy nhiên vẫn dựa trên một số nguyên tắc ban đầu, là bước chân hình chữ bát, được đặt tên là đinh bát bộ, còn có bước cung tên, tương ứng với nửa đinh bát bộ, trọng lượng được phân bố ở chân trước ba phần, chân sau bảy phần, còn sức mạnh chống đỡ hai cánh tay thì được phân bố trong bảy ngoài ba, khi nào ra đòn đều đảm bảo sức lực luôn cân bằng, rồi trở lại trạng thái ban đầu. Ví như chiếc lò xo trong súng pháo, thường xuyên hoạt động co duỗi, cự ly ứng biến của tay chân, xa nhất không quá một thước, gần nhất không vượt một tấc, chuyển đổi mau lẹ, thiên biến vạn hóa từ phía trước ra phía sau, từ bên này sang bên kia, vận dụng càng linh hoạt thành thục thì càng đạt đến độ chín. Còn về cách vận dụng các trạng thái căng chùng chìm nổi, cân nhắc lựa chọn giữa nhẹ nhàng hay mạnh mẽ, cự ly tung ra đòn đánh nên gần hay nên xa, sự phối hợp giữa các tư thế, dồn sức đánh đòn dứ hay đòn thật, hay ra đòn gió trong khoảng không, cũng như chọn lựa thời cơ… sau đó sẽ dần dần bàn bạc trao đổi vấn đề tổng thể trong quyền học. Thường ngày, hãy giả định tình huống trước mặt bạn xuất hiện hổ báo, khi đó bạn phải ứng phó kịp thời, tạo thế ra đòn thật chính xác, để mưu lấy sự sống còn. Trong giai đoạn nhập môn học đánh võ, chỉ có một con đường, hoặc gọi là phép tắc sơ khởi. Tiếp sau đó là trình bày về cách vận dụng ba yếu tố tâm trạng, ý thức và sức mạnh.

 Vận dụng tâm trạng

Thế đứng khi ra thế võ cần phải để cơ thể trong khoảng không gian thăng bằng thoáng đãng, tinh thần phấn chấn, ý thức thông suốt, ví như tuấn mã phi nhanh, như thần long gầm thét, đầu ngửng cổ thẳng, hơi thu ngực, toàn thân tràn đầy khí thế, gắn bó mật thiết với môi trường xung quanh, ngón chân bám chặt vào mặt đất, hai đầu gối vững chãi, lực hướng lên phía trên, gót chân hơi nhón lên cao, tạo ra khí thế như gió bão cuộn lùm cây, tưởng như đủ sức làm cây bật gốc bay lên, lắc lư chao đảo. Mô tả cụ thể hơn là nắm tay rắn chắc, tóc dựng như ngọn kích, toàn bộ cơ thể uốn lượn hết sức nhịp nhàng, uyển chuyển tự nhiên. Sức mạnh khi ra đòn như giành giật với trời đất, vai nhô cánh tay nằm ngang, phóng ra thu về một cách mạnh mẽ, phần trên chắc mạnh, phần dưới chùng lỏng, tung hứng phối hợp chặt chẽ, không bao giờ để rơi vào tư thế mất thăng bằng, đầu ngón tay đâm chéo, hai bên móc lên, uốn ra ngoài hay quắp vào bên trong, tạo ra cảm giác như có thể xô nhào cả hòn núi, xê dịch cả trái đất, cơ bắp gân cốt đầy sức lực, khớp xương linh hoạt, cơ thể thu gọn, tâm trí tập trung vào động tác đầy vẻ suy tư, tung sức ngang dọc, hai vai dãn ra thu vào, hướng thẳng về phía trước, sẵn sàng nhào lộn giao tranh, tóc râu dựng đứng, lưng thẳng sườn ngay. Bụng thót tròn, ngực hơi thu, khi vận động ví như hùm dữ đi lùng sục con mồi trong núi, rừng cây ngỡ như nghiêng ngả, sườn núi ngỡ như sắp sạt lở. Toàn thân mềm mại như rắn thiêng cuộn mình, sốt sắng như có lửa đốt, như rồng dữ sợ sấm sét vụt bay đi, có ra cảm giác gân cốt như đang bị kích động, sức mạnh như thuốc súng bùng nổ trên bàn tay, nỏ thần sắp bật lẫy, con chim sẽ không kịp né tránh, tưởng như được thần thánh giúp sức, tiếp thêm dũng khí. Gặp bất kỳ sự việc gì cũng đều để mắt chú ý, như lưới trời không bỏ sót bất kỳ một tình huống nào, không gì có thể qua mắt, sương tuyết phải nhường bước cỏ cây. Ra đòn nhanh chóng thần tốc không gì sánh kịp, vì vậy gọi là “động tác siêu tốc” để thể hiện sự phản ứng nhanh nhạy của tâm trạng, nhanh hơn mọi thứ vận tốc tồn tại ở trên đời. Những điều mô tả trên đây đa phần tương đối trừu tượng, nhưng về tinh thần lại phải thiết thực, tránh rơi vào trạng thái hoang tưởng viễn vông.

 Vận dụng về sức lực

Ngoài việc vận dụng về tâm trạng, thì vận dụng sức lực càng quan trọng cần thiết hơn, hơn nữa phải thể hiện được sức lực tài năng, không phải là sức lực phiến diện. Phần đông mọi người phải thử sức để đề ra yêu cầu. Khi luyện tập, trước hết phải nắm được tiết tấu, không gian, cố gắng tạo thế cân bằng không bị xô lệch, tiếp sau đó là trọng tâm ra động tác phải cân đối, đòn gió, đòn thật có điểm mạnh, điểm yếu, điểm chắc, điểm chùng, nghĩa là lực tung ra vừa phải thích đáng, lợi dụng tư thế tuần hoàn như ánh sáng lúc tan lúc hợp, mềm mại và mạnh mẽ như ngọn sóng. Ngoài ra, râu tóc trên người có vẻ như thăm dò, hễ động vào là lập tức tỏ rõ khí phách, luôn luôn ở tư thế sẵn sàng ứng phó, vừa tiến công vừa phòng thủ, sẵn sàng xông vào quần thảo với kẻ địch. Đặc biệt cần chú ý dùng sức điểm huyệt, không được ra đòn một cách vu vơ không nhằm vào mục đích định sẵn. Tìm được chỗ sơ hở của đối phương để đánh, không đánh vào điểm mạnh, không chừng điểm mạnh lại là điểm yếu, vì điểm mạnh và điểm yếu thường xuyên chuyển đổi xê dịch một cách mau lẹ, nếu không phải là con người từng trải trận mạc thì không thể nắm bắt được điều này. Đánh dồn dập, đánh ác hiểm bằng nhiều đòn hỗn hợp cũng rất có lợi, trước hết phải đánh giá đúng và hiểu rõ đối thủ, đánh chính diện, sau đó nhanh chóng chuyển ra đánh chéo sườn, có thể hạ đo ván đối thủ. Vì vậy cần phải học tập chuyên cần, không được phép lơi lỏng, luôn có ý thức thận trọng tìm tòi suy nghĩ. Nếu xét về những trận đấu mang tính chất sống còn, được gọi là trận quyết đấu, khi đã quyết đấu thì không còn đạo nghĩa, phải nắm chắc bí quyết sáu chữ là: “Quyết đoán, chịu đựng, hiểm độc, cẩn trọng, chắc chắn, chính xác”, xác định tư tưởng cùng sống cùng chết, một mất một còn với đối phương. Nếu xét thấy đánh không đúng, thì không nên đánh, khi đã ra đòn phải xác định là chắc chắn có thể hạ gục được đối phương, khi đã hạ quyết tâm cao như vậy thì nhất định sẽ giành được phần thắng, kể cả trong trường hợp hai bên ngang sức ngang tài. Trường hợp tự nhận thấy tài nghệ của mình có phần kém cạnh đối phương, thì tốt nhất là nhường phần thắng cho họ. Nếu như hai bên cùng môn phái mà gặp nhau, cùng thử tài giao tranh, thì gọi là thi đấu hữu nghị để học hỏi cọ xát, về mặt tính chất khác hẳn với quyết đấu sống mái, cần phải coi trọng đạo nghĩa, trước hết phải quan sát đánh giá tài nghệ của đối phương ra sao, bày tỏ thái độ nhường nhịn, khiến họ cảm phục nể sợ cái uy cái đức của mình. Trước khi bước vào giao tranh, phải thi lễ chào hỏi bằng những lời lẽ ôn tồn, động tác lễ độ. Không được tỏ ra kiêu căng, xốc nổi, lên mặt, gây tổn hại đến hòa khí, có như vậy thì võ đức mới dần dần được phục hồi, các môn phái cổ mới được tồn giữ lâu dài, làm cho quyền phái của chúng ta trở nên vinh quang rạng rỡ, đó cũng là mong ước của người đời sau.
Nguyễn Hoàng Quân
taijiquanclub@gmai.com
01287050579
Quan
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 1148
Ngày tham gia: Chủ nhật 21/12/03 14:57

Re: ĐẠI THÀNH QUYỀN LUẬN

Gửi bàigửi bởi Quan » Thứ 3 28/02/12 21:51

11. Bàn về bài quyền và phương pháp

Nội dung sâu sắc của quyền đạo là vô cùng vô tận, người theo học sẽ cảm nhận được cái hay cái đẹp tuyệt vời của nó, muốn vậy cần phải giữ vững niềm tin và thể hiện tinh thần miệt mài hành động, có thể là cả đời rèn tập cũng chưa thể đạt đến giới hạn tột cùng. Còn về bài quyền và phương pháp, cũng có thể gọi là thế quyền do con người tạo ra. Trong vòng ba trăm năm trở lại đây, kể từ triều đại Mãn Thanh, nó đã trở thành những bài múa biểu diễn của các võ sĩ ngoại đạo người Hán, họ coi đó là kế mưu sinh. Nếu muốn nghiên cứu tìm hiểu môn quyền này một cách nghiêm túc, thì tại sao lại không bỏ thời gian để theo học, trừ phi không có mục đích gì, hoặc thần kinh, cơ thể, trí não có vấn đề, gây trở ngại cho việc thực hiện các kỹ xảo của thân thể. Bởi vậy người theo học quyền này nếu như không trang bị đầy đủ kiến thức, mà lại đem ứng dụng thì lại càng không thích hợp, lợi bất cập hại, không thể kể ra hết được. Giữa sứ mệnh của quyền với các nguyên tắc về y tế, thì có một khoảng cách rất xa, ở đây không đề cập đến. Trong khi so tài cao thấp, nếu không biết vận dụng phương pháp và miếng đánh, chỉ biết đánh thục mạng, ra đòn lung tung hoặc không nhằm mục đích hạ đo ván đối thủ, thì thất bại là cái chắc. Luận thuyết về ngũ hành sinh khắc chỉ là luận điệu mù quáng. Bởi khi quyết đấu, phải phân định thắng bại trong khoảnh khắc, làm gì có đủ thời gian để suy xét về chuyện đó, nếu như dùng mắt quan sát, sau đó suy xét rồi mới tung ra đòn đối phó, như vậy khó tránh được thất bại. Về luận thuyết ngũ hành sinh khắc, theo tôi suy nghĩ thì ngay cả đứa trẻ lên ba cũng không thể tin được hoàn toàn huống chi người trưởng thành. Hãy đi thăm hỏi điều tra những người đã từng tham gia thi đấu, thì bạn sẽ thấy lời tôi nói là đúng. Tham khảo sách Ngũ hành chí của Hồng Phạm thời Hán, thì chỉ có phương diện chính trị và nhân sinh mới cần khai thác ứng dụng kim mộc thủy hỏa thổ, về sau này bị những kẻ vô học kém hiểu biết lạm dụng và ngụy tạo, dần dần nặn ra luận thuyết mà người đời gọi là ngũ hành sinh khắc. Chẳng qua đó chỉ là cách nói tùy tiện trong giới giang hồ mà thôi, các học giả làm sao có thể đọc những thứ đó? Kể cả các miếng quyền thuộc loại đó, đa phần đều do người hiểu biết ngụy tạo ra các chiêu thức phương pháp, lẽ nào chẳng do họ ngụy tạo mà nên, tất cả đều không thuộc về nguyên tắc của quyền là phát huy bản năng học hỏi của con người. Tuy nhiên vẫn có những người vững tin vào điều đó, miệt mài kiên trì học tập, để rèn luyện đức tính kiên nhẫn và nghị lực, kết cục chỉ là bỏ cái tinh lấy cái thô mà thôi. Cần phải hiểu rằng quyền học vốn không có phương pháp, hay nói cách khác là không có chi tiết nhỏ nhặt nào không có phương pháp, khi đã có phương pháp thì tinh thần sẽ không tập trung thống nhất, sức lực không dốc hết, động tác tản mạn không quyết đoán, mọi mặt không hiệp đồng thống nhất, có hại cho việc nâng cao kỹ năng. Cái gọi là phương pháp chính là nguyên lý nguyên tắc chứ không phải là một số bài bản cứng nhắc phiến diện và vụn vặt. Học tập phương pháp chi tiết, không được lơ là coi nhẹ mặt y học. Những người học võ đều phải chuẩn bị sẵn các bài thuốc thích hợp đề phòng trường hợp bị chấn thương, khi bị chấn thương thì phải chữa trị cho đúng cách, nếu không thì sẽ không còn có cơ hội để thi thố tài năng. Những ai tập quyền theo đúng phương pháp bài bản, không bao giờ dùng luận điệu xằng bậy hù dọa để gây nhiễu đạo nghĩa, bởi đó là tội ác đối với quyền đạo. Thật đáng buồn là trong những theo học quyền thời nay có kẻ huyênh hoang tuyên bố là đã đi sâu nghiên cứu, nhưng thật ra chưa được coi là nhập môn, thế mà họ đã bất chấp tất cả, thề sẽ khám phá ra những điều sai trái. Phương pháp đạo quyền như thế vừa chẳng có ích gì, thậm chí còn gây hại, việc gì phải truyền bá? Thế nhưng thực tế lại không thiếu người theo học, tại sao lại như vậy? Nguyên nhân là đa phần trong số họ là những kẻ kém hiểu biết, lại có sở thích hiếu kỳ đua đòi, rất dễ tin lời đồn đại là thật, bởi nó rất khó nhận biết, mà dù có nhận biết thì cũng khó thực hành. Những kẻ theo học chỉ dùng những ngón nghề đó để lòe bịp hù dọa người đời, còn những kẻ truyền dạy lại dựa vào đó để ăn hiếp bắt nạt người khác, hoặc đơn giản coi đó là phương tiện để kiếm sống qua ngày, thực tình họ chẳng hề biết quyền là gì, mà cố tình truyền thụ cái sai của mình cho người khác, tất cả cứ tiếp diễn như thế mãi, để rồi trở thành một trào lưu dở khóc dở cười, mà cũng đáng giận. Kỳ lạ thay là không chỉ có quyền đạo mà thôi, tôi cảm thấy tất cả các học thuật khác cũng đều phát triển một cách dị dạng như thế, thật không nỡ giương mắt mà nhìn đồng loại đi vào con đường gập ghềnh lầm lỗi mà khoanh tay làm ngơ, không ra tay cứu vớt. Dựa vào cảm nhận thể nghiệm qua nhiều năm của mình, tôi đã nhiều phen biện luận trăn trở, lên tiếng uốn nắn sai lầm, nhằm thức tỉnh đồng bào chớ có tiếp tục dấn sâu vào con đường lầm lạc. Hầu như tất cả các học thuật sâu xa trong cõi trời đất, thì hình thức đều đơn giản nhưng ý nghĩa lại phong phú, ngược lại hình thức phức tạp mà ý nghĩa thì lại nghèo nàn, đâu chỉ có quyền đạo rơi vào tình trạng đó, mong những người cùng chí hướng hãy chịu khó đào sâu suy nghĩ.

12. Bàn về mối quan hệ giữa quyền và vũ khí

Cổ nhân có câu “Học quyền giỏi tự nhiên sẽ nắm được binh khí, chớ có chỉ chuyên tâm học riêng về đao thương”. Nếu như nắm bắt được chân lý hàm chứa trong quyền, thì sau đó sẽ tự nhiên lĩnh hội được tất cả các mặt khác như công năng của lực, bí mật ẩn chứa trong từng công đoạn, không gian, cái hư cái thực trong từng đòn đánh dài, ngắn, chính diện và bên cạnh, công dụng của tam đoạn và cửu tiết, phương hướng của từng đường quyền cao thấp, và mức độ thỏa đáng về thời gian tiếp xúc. Cho dù loại binh khí đao thương hay hợp thành, chỉ cần chỉ dẫn sơ qua đều được đạt trình độ tinh thông, ngay cả trường hợp gặp phải một loại binh khí mới, chưa từng nghe thấy, nhìn thấy bao giờ, hơn nữa nó lại được vận dụng bởi một chuyên gia về binh khí loại đó thì vẫn không bị thất bại. Vì sao lại như vậy? Có thể ví von như cuộc so tài giữa kỹ sư và người thợ lò, bác sĩ so tài với hộ lý, nói thẳng ra là không thể đem ra so sánh với nhau được.

13. Bàn về điểm huyệt

Luận thuyết về điểm huyệt được người đời cho là kỳ bí, có lý thuyết chuyên nói về huyệt đạo, nói về thời gian, tóm lại là có rất nhiều nội dung khác nhau không thể kể hết, điều này khiến người nghe cảm thấy nhàm chán buồn nôn. Tất cả những luận thuyết đó đều sai trái. Khi hai bên giao đấu, ngang tài ngang sức thì không cần phải nói, thật khó lòng điểm đúng vào huyệt vị cần thiết, thậm chí đánh trúng những bộ phận bất kỳ nào đó cũng đã là rất khó. Nếu chỉ hạn chế vài huyệt vị nào đó có thể điểm cộng thêm yếu tố đối chứng về thời gian, thì đã sớm bị đối phương hạ gục rồi. Nói cách khác là nếu không có năng lực cơ bản về quyền thuật thì ngay cả trường hợp được điểm huyệt tùy ý cũng không thể thi thố được tài năng, cứ cho là điểm đúng huyệt vẫn không mang lại hiệu quả. Nhưng nếu đã thu nhận được sức mạnh thật sự trong quyền thuật, thì chỉ cần đánh trúng bất kỳ bộ phận nào như hai cánh tay hay vùng ngực, thì đều có thể gây ra thương vong cho đối thủ. Dù không cố ý điểm huyệt, thì những chỗ bị đánh trúng, cho dù không phải là huyệt thì cũng trở thành huyệt. Nếu chỉ bó hẹp phạm vi nắm bắt một vài huyệt vị nào đó thì biết khi nào mới có cơ hội đánh trúng, chẳng cần nói cũng hiểu được đạo lý thật khác xa.

14. Sự khác nhau giữa tài năng trời phú và kỹ năng học được

Người đời thường nói: “Ai đó thân cao tám thước, sức nâng ngàn cân, dũng mãnh không gì ngăn cản được”, tuy nhiên có được chiều cao tám thước, nâng nổi ngàn cân, chẳng qua cũng chỉ là những tố chất độc đáo trời ban cho, không thay thế được quyền thuật. Lại có câu nói rằng: “Ai đó đấm một quả gãy đôi hòn đá mài lớn, vỡ vụn tám viên gạch chồng lên nhau, nhảy về phía trước được một trượng, nhảy về phía sau được tám thước” đạt đến trình độ đó cũng chỉ được coi là một vài công phu của người thường, rất có thể sẽ đưa họ đến kết cục bị tàn phế, điều này khỏi cần phải nói, không thể coi là họ đã học được quyền đạo. Như những nét vừa trình bày thì các nhân vật kể trên được người đời tôn vinh là có biệt tài, nhưng nếu họ đọ sức với võ sĩ chuyên nghiệp, thì chẳng thể địch nổi. Còn về các câu chuyện truyền thuyết của hiệp sĩ kiếm khách có tài bay lên mái nhà, chạy trên tường, chẳng qua cũng chỉ là sản phẩm tưởng tượng của các nhà văn chuyên viết chuyện kiếm hiệp, góp cho người đời những chuyện vui giải trí, đại loại như những khách giang hồ chuyên đi đánh thuê, có thể xẻ đôi núi đá, đi trên rừng dao, bất quá cũng chỉ được xếp hạng hạ lưu, chẳng đáng bàn luận.

15. Xóa bỏ yếu tố thần bí

Những kẻ tư chất thấp kém, học hành nông cạn, nhưng đối xử với người khác một cách trung thực, thì lại được thầy dạy dỗ thấu đáo chuyên sâu một lĩnh vực, đa số đều nắm tinh thông một ngón nghề, cho dù chỉ là một phần, nhưng thực chất họ vẫn chưa đạt đến độ chín, chẳng qua họ hay huyênh hoang khoe mẽ, nếu xem xét về hiệu quả công năng của họ, thì những người hiểu biết nông cạn sẽ ngờ rằng họ vượt trội hơn người và gán cho họ những nét thần bí. Ai cũng có thể hiểu rằng những chuyện thần bí chỉ là hoang đường, bắt nguồn từ trí tuệ non ớt, khả năng nhận biết yếu kém, không biết phân tích sâu sắc. Cho dù ai đó ngẫu nhiên hoặc may mắn gặp được chân lý trong quyền đạo, thì cũng không thể lĩnh hội được mà mặc nhiên bỏ qua một cách đáng tiếc. Nếu người nào hiểu biết sâu sắc, nắm vững chân lý mà phải đối mặt với một loại tư tưởng thần bí, thì với sự từng trải, thông thái của mình họ sẽ hiểu rõ sự thật ngay, mà không một chút nghi ngờ, tuy nhiên mọi sự vật đều như vậy, không chỉ riêng quyền thuật mới như vậy.

16. Giải thích về sự hiểu biết và hành động

Đối với một ngành học thuật, cần phải am hiểu và biết cách vận dụng vào thực tế để tăng cường hiểu biết, nếu không thì không tránh khỏi kết cục là tự lừa dối mình và lừa dối người khác, nói năng bạt mạng, không có chừng mực. Biết và làm nghe qua tưởng đơn giản, nhưng thực hiện được nó lại là điều vô cùng khó khăn, vì vậy mà người đời có câu “Biết rõ cái khó thì hành sự dễ dàng”, hoặc là “Hiểu biết đã khó, làm được càng khó hơn” hay “Nếu hiểu biết và hành động hòa nhập làm một, giải quyết tận gốc vấn đề thì sẽ không còn khái niệm khó dễ”. Những câu nói trên đây đều rất có lý, tuy nhiên chỉ là lý thuyết chung chung và đa phần là phiến diện, không giúp cho con người hiểu được thấu đáo. Ngoài ra, đối với bất kỳ một ngành học nào, chỉ cần công lực đạt đến độ chín, thì đều thu được hiệu quả khả quan, còn nhưu do kiến thức hạn hẹp, không hiểu biết thấu đáo thì được gọi là hiểu biết khó mà làm thì dễ. Nếu có trình độ nhận biết cao, thì hiểu thật dễ mà làm cũng chẳng khó. Nếu có khả năng phân biệt nhưng thiếu công lực, thì được coi là biết thì dễ nhưng làm thì khó, còn những người vừa không có công lực cũng chẳng có trí tuệ, thì cả hiểu biết và thực hành đều là điều không thể. Sự học vốn vô cùng vô tận, chẳng có giới hạn, có những người chỉ hiểu biết suông, có những người khác chỉ biết hành động, làm đến đâu biết đến đó thì gọi là người vừa hiểu biết vừa biết cách thực hành đúng thực chất. Đến đây tôi thực sự không dám bình luận thêm, mà chỉ dám cho rằng họ là những kẻ vừa có trí tuệ vừa biết thực hành, một khi họ đã làm được thì tất nhiên họ cũng hiểu được điều họ đã và đang làm, như vậy có thể đánh giá là hiểu biết và hành động đi đôi với nhau, lại có những người không bao giờ hiểu được thấu đáo và cũng không thể hành động thật sự. Đúng là hai mặt cần thiết cho nhau và hỗ trợ lẫn nhau, chân lý chỉ có một, học thuật cũng không thuộc ngoại lệ, võ đạo thì lại càng đúng như vậy. Bởi vì đạo này phải thường xuyên được thể hiện, khi hai bên gặp nhau không có thời gian để suy xét, càng không cho phép nói chuyện sáo rỗng tầm thường. Nói về học thuật thì điều quan trọng hàng đầu là phải hiểu rõ đạo lý, và trên hết là phải luôn cố gắng chăm chỉ thực hiện những hành động thiết thực, nếu không làm được như vậy thì rất dễ sa vào con đường lầm lạc. Nếu công phu bỏ ra càng nhiều thì mức độ gây tổn thương càng trầm trọng. Bất luận là đọc sách viết chữ hay tham gia hoạt động nghệ thuật gì, thông thường người ta cho rằng những điều này có thể gây dựng mầm mống từ khi còn thơ trẻ, đâu biết rằng đòi hỏi phải có công sức dài lâu, những nhân vật nổi tiếng trong thiên hạ, thường không được học hành đến nơi đến chốn. Những chuyện như thế đâu đâu cũng có, chỉ vì cách giáo dục không tốt, hoặc không đủ kiên nhẫn, bền lòng hoặc chỉ chạy theo hư danh, theo đuổi người khác, ai làm gì cũng học đòi theo, được gọi là hành động mù quáng. Nếu sự học không mang lại kết quả, có nghĩa là mãi mãi không nắm bắt được chân lý, như vậy là đã sống một đời uổng phí, không có hiệu quả thực chất, mà lại hay phát sinh suy nghĩ thần bí, cuối cùng chẳng đi đến dâu, kiến thức học được bị rơi rụng hết, chẳng bao giờ bén duyên được với chân lý. Thật đáng buồn thay! Hãy nhớ rằng, những kẻ giỏi giang đa phần đều do rèn luyện mà nên, sách có câu: “Con cháu dù ngu dốt, thì cũng không thể lơ là việc học hành, phải biết nắm bắt đạo lý, lại phải biết cách thực hành, bên trong và bên ngoài, nội dung và hình thức phải thống nhất hỗ trợ cho nhau, nếu không thật khó nên người”.

17. Nguyên nhân quyền đạo bị thất truyền

Điều cốt lõi khi theo học quyền là ba nguyên tắc: Thứ nhất là rèn luyện sức khỏe, thứ hai là để tự vệ, thứ ba là mang lại lợi ích cho cộng đồng. Mang lại lợi ích cho cộng đồng chính là thiên chức của chúng ta, cũng được coi là yếu lĩnh cơ bản bao trùm lên tất cả, mọi thứ gặt hái được là nhờ có sức khỏe dồi dào, tâm hồn lành mạnh. Khi sức khỏe sút kém thì không thể có được tinh thần hăng hái, mà tinh thần không hăng hái thì rất khó lập nên công tích đáng ca tụng. Chưa cần nói đến chuyện tự hy sinh thân mình để giữ tròn danh tiết, từ bỏ cuộc sống để bảo toàn đạo nghĩa. Chỉ sợ bị người khác vùi dập hoặc tự sát, hay là co mình lại không dám xông lên, nói chi đến chuyện tuốt gươm hỗ trợ kẻ lương thiện bị ức hiếp giữa đường. Chẳng những thế, những kẻ tự ti hạ mình, đa phần đều yếu đuối nhu nhược, kém khí phách, bởi vì sức khỏe không tốt nên dễ thay đổi tình cảm tâm trạng. Sức khỏe được coi là vốn quý trong đời người, mà học quyền chính là cội nguồn tạo ra sức khỏe, tất cả sự nghiệp đều trông cậy vào đó, mối quan hệ này vô cùng quan trọng, cho nên không thể ngộ nhận cái giả thành cái thật, từ xưa đến nay trong thiên hạ không ai phải tranh cãi về vấn đề này. Theo quyền đạo thì khởi đầu hết sức đơn giản, nhưng sau đó dần dần trở nên phức tạp. Quyền đạo được coi là phương thức để cải thiện sinh lý, là bí quyết để phát triển tài năng, từ dễ đến khó, có vẻ như rất hợp lý, nhưng nếu từ phức tạp trở thành đơn giản, có vẻ như đi ngược lại với nguyên tắc nguyên lý của sự sống, mà điều này rất khó thực hiện. Thuở ban đầu hình ý quyền gồm có ba bài, hơn nữa ba bài này lại có cùng một động tác, chúng được ví như là bọc dần từng lớp, như ngựa chạy vòng tròn, để ba loại sức lực cùng thống nhất phát huy một tác dụng, ngoài ra mười hai dạng ngũ hành cũng được bao hàm trong đó, bởi vì ngũ hành vốn là từ ngữ thay thế cho năm loại sức mạnh, chẳng hạn như mười hai dạng dùng để chỉ đặc điểm nổi trội của mười hai loài cầm thú mà ta cần thu nhận, không phải là mười hai dạng đơn lẻ, cũng như các bài quyền pha tạp, quyền bát quái cũng tương tự như vậy, thuở ban đầu chỉ có một bài quyền chuyển đổi giữa đơn lẻ và cặp đôi, về sau do lớp hậu thế kém hiểu biết, không rõ ý nghĩa chân chính trong đó, nên tiếp tục ngụy tạo một cách mù quáng đến mức số bài quyền lên đến sáu mươi tư và có những bảy mươi hai thế chân, điều này không những không mang lại lợi ích gì mà còn gây hại, trong đó đại cực quyền bị nhiễm tệ nạn nghiêm trọng nhất, những mặt gây hại của nó không chỉ bó hẹp về mặt sinh lý, hơn nữa nó còn tỏ ra hết sức huyễn hoặc, tất cả các tư thế đều không thể chấp nhận được. Chẳng hạn như bài bình luận chung về môn chữ nghĩa vận dụng rất tao nhã bay bướm, đáng tiếc là nét tinh túy rất ít, còn những phần tầm thường tạp nham lại chiếm đa phần, hơn nữa hầu như các nội dung đều trình bày một cách chung chung thiếu tính cụ thể. Nói tóm lại nếu so sánh với các môn quyền thuật thời nay, thì cơ bản không thể cho rằng nó có giá trị gì về mặt dưỡng sinh hay thi đấu, cũng chẳng có bài bản nào đáp ứng được yêu cầu sinh lý. Đã hơn bốn mươi năm phiêu bạt giang hồ, để lại dấu chân trên mọi miền nam bắc, tiếp xúc với hàng ngàn hàng vạn võ sĩ đánh quyền, mà chưa hề nhìn thấy một chiêu thức nào tạo được thế cân bằng, nói chi đến mức tinh thông điêu luyện, bởi vì quyền vốn có hình thức đơn giản, nhưng nội dung rất phong phú, cả đời tập luyện đôi khi vẫn chưa hiểu thấu hết ý nghĩa của nó, cũng khó đạt đến mức hoàn mỹ, mà chỉ nắm được một đôi phần nhỏ lẻ, huống hồ là những người căn bản không theo học môn quyền này. Điều đó không có nghĩa là do nguyên lý quyền đạo khó nắm bắt, mà là do con người bình thường không hội tụ đủ tư tưởng bình dị và ý chí kiên cường. Thời nay có vô số môn phái xuất hiện phương pháp và chiêu thức, nhiều đến mức không thể kể hết tên, đi sâu tìm hiểu được biết người ta cố ý tô vẽ nâng cao nhằm phục vụ cho mục đích biểu diễn. Nếu như theo học quyền chỉ để làm đẹp lòng kẻ khác, thì vì sao lại không bỏ quyền để theo học ngành sân khấu nhạc kịch có hơn không? Hơn nữa trong giới hý kịch cũng có khá nhiều cao thủ mà bản lĩnh của họ còn cao hơn võ sĩ quyền thông thường một bậc. Những người học quyền thời nay thường kể rằng họ nắm vững được bao nhiêu bản chiêu thức và tỏ ra vênh vang đắc ý về điều đó, nhưng lại không thể ngờ rằng những người hiểu biết đang cười nhạo họ, hoặc nói đúng hơn là thở dài tiếc nuối thay cho họ. Tuy nhiên việc thất truyền của quyền đạo đâu phải chỉ vì phương pháp của các bài quyền, trải qua ba trăm năm truyền bá học hỏi đã xây dựng thành phong trào, mà những tồn tại khiếm khuyết ngày càng trở nên trầm trọng rất khó chỉnh sửa khắc phục, huống chi lớp người sau còn ra sức nhào nặn tô vẽ thành nhiều bè nhiều phái khác nhau với những luận thuyết như tứ tượng ngũ hành, cửu cung bát quái và học thuyết Hà Lạc, tất cả những từ ngữ hoa mỹ huyễn hoặc đều được họ tận dụng để phụ họa, khiến cho người theo học không thể hiểu rõ nội dung chân lý thật sự, bị mê hoặc cám dỗ bởi những học thuyết rồi đi vào con đường lầm lạc, làm cho nguyên lý quyền đạo ngày càng bị mai một. Ngoài ra, có một số người sau khi học được một đôi bài đao thương quyền côn, liền sử dụng để làm kế sinh nhai, nếu gặp được ai đó cùng sở thích thì truyền thụ lại cho nhau, nói cách khác là khi cuộc sống khó khăn thì có rất nhiều người coi đây là một giải pháp để kiếm sống, họ đua nhau học đòi mô phỏng, trong xã hội xuất hiện nhan nhản những kẻ không hiểu biết gì về ý nghĩa sâu xa của quyền đạo, mà hành động trái ngược với chân lý quyền đạo, khiến cho trào lưu cao thượng nghĩa hiệp dần dần bị suy tàn. Đương nhiên vẫn có một số võ sĩ thấu tình đạt lý, nhìn nhận ra được nét tinh túy được gìn giữ trong quyền, nhưng họ đành bó tay trước các loại thiên kiến, không thể phô diễn tinh hoa của quyền với người đời, ví như giữa biển cả bao la làm sao biết được người sắp chết đuối đang ở nơi đâu để ra tay cứu vớt, bởi vì tầm nhìn của con người vốn hạn hẹp, nhỏ bé.
Học thuật thực ra là tài sản chung của nhân loại, ai cũng có quyền sở hữu, vậy thì đúng lý ra phải đem phổ biến cho xã hội, tại sao một số người lại cố tình nắm giữ làm bí mật riêng tư, hoặc bí mật ban tặng hay truyền thụ cho số ít người, khiến cho học thuật dần dần bị mai một và không thể phát huy được, đáng buồn hơn nữa là còn có khá nhiều kẻ giả danh hoặc khoác áo môn phái để lòe bịp lừa phỉnh, họ bịa ra những câu chuyện thần bí huyễn hoặc, nào là đi theo thầy học đạo, rồi may mắn được gặp tiên, thật hoang đường khó tin, cũng đã từng xuất hiện nhiều tà thuyết quái đạo, thật khó mà tổng kết đầy đủ những loại tà thuyết này. Thời hiện đại, khoa học được đề xướng và phát triển, thế mà vẫn có kẻ dám liều lĩnh tuyên truyền các học thuyết hoang tưởng quái dị thông qua phương thức truyền miệng hoặc đăng tải trên báo chí, loại người đê tiện đáng khinh ghét đó đang theo đuổi những công việc xấu xa đớn hèn nhất trong xã hội loài người. Nếu như đức phật có linh thiêng không biết sẽ cảm nhận như thế nào trước những luận điệu xằng bậy của họ? Trên thế gian có vô số cách mưu sinh và theo đuổi danh lợi, nhưng hà tất phải lợi dụng một số nhược điểm của xã hội để hoạt động lừa đảo? Khi nói ra những chuyện này không khỏi ngậm ngùi chua xót cho quyền đạo và cũng thấy đáng buồn thay cho người đời. Việc quyền đạo bị vùi dập cần phải quy tội cho hai vị vua Khang Duy, vì trong khoảng thời gian trị vì của họ đã không đề xướng tôn vinh quyền đạo này. Tuy nhiên nói cho cùng thì nguyên nhân chính vẫn là do người cùng chí hướng chưa đủ kiến thức, chưa có gốc rễ bền vững, nên dễ bị mê hoặc cám dỗ, để cho thời nay điều sai trái vẫn ngang nhiên được truyền bá, đến nỗi không còn có thể phân biệt được chân đạo và ngụy đạo, tồn tại rất nhiều ngộ nhận. Nếu có ai sáng suốt nhận biết, thì lại vì lý do bảo thủ thành kiến mà gây khó dễ cho người khác, khiến cho tình hình ngày càng tệ hai hơn. Đối với quyền đạo, nếu học đúng cách thì sẽ có nhiều bổ ích cho bản thân, hơn nữa còn có thể bù đắp cho những phần khiếm khuyết trong sự nghiệp. Nhưng nếu học quyền đạo không thỏa đáng, thì sẽ gây tổn hại về mặt đức hạnh, thần kinh, tay chân cơ thể, tính tình trở nên thất thường, thậm chí còn ảnh hưởng đến sinh mạng, nói cách khác là gây hại cho cả đời người. Nếu ai đó không tin thì hãy xem một số nhân vật nổi tiếng quyền thuật, do cơ bắp gân cốt không điều hòa, mà họ đã bị suy sụp bại liệt, những chuyện đại loại như thế đâu đâu cũng bắt gặp, mục đích học quyền vốn là để dưỡng sinh, hóa ra lại làm tàn hại cuộc đời, kết quả thật đáng thương. Mọi người thường hô hào quyền đạo chính là tinh hoa của đất nước, nhưng nếu tinh hoa mà lại như thế thì khác chi một phương tiện để sản sinh ra những con người tàn phế? Sau năm dân quốc thứ mười năm, ở nhiều địa phương đã xây dựng Cung Võ thuật Quốc gia, để biểu thị rằng các ngành nghệ thuật khác đều không đáng được coi là biểu tượng của đất nước, thế nhưng với những loại võ thuật không đáng giá một xu và khiến người ta xấu hổ như thế đâu chỉ bắt gặp ở một mình nước ta, tuy nhiên chưa nghe nói ở đâu lại có được những võ sĩ kỳ lạ và cao siêu đến nhường đó, để có thể gán cho họ hai chữ vĩ đại, thật không biết vì sao họ lại táo tợn đến thế và trong đầu họ suy nghĩ những gì mà lại như vậy. Về chuyện đề xướng ủng hộ phong trào thì thường do những người có cương vị và tiếng tăm thực hiện, họ suốt ngày khoa chân múa tay và lớn tiếng hò hét thiên hạ tôn vinh, đâu có biết rằng các kiện tướng võ thuật lại là các vị lãnh đạo đã chết yểu từ lâu. Chao ôi! Sao người ta lại mù quáng mà nghe theo như thế cơ chứ, cầu xin cho người đời đêm nằm trăn trở nghĩ suy để nhìn nhận ra sự thật. Cuộc sống là vốn quý nhất trên đời, mà yếu tố quan trọng hàng đầu chính là thân thể, sao phó mặc cho những chuyện xằng bậy chi phối đến nỗi thân tàn ma dại được? Vậy thì chuyện tầm sư học đạo phải thật thận trọng, khi theo học quyền, không những phải biết rõ chuyện phải trái, mà còn cần phải biết phân biệt các môn phái khác nhau, có như thế thì quyền thuật mới được tôn vinh phồn thịnh, với mong muốn đem những kiến thức mà chính mình thu lượm được trao gửi lại cho người đời sau, và đặc biệt hy vọng mọi người trong xã hội ai cũng hiểu rõ điều này, tích cực truyền dạy lại người khác mỗi khi có cơ hội gặp nhau, coi người trong thế gian đều là người thân ruột thị, không thích cách xưng hô sư phụ với đồ đệ, nhằm dần dần từng bước xóa bỏ quan niệm phân biệt giữa các môn phái, làm cho quyền đạo có ngày thăng hoa tỏa sáng, đó chính là mong ước của chúng ta.

18. Bàn về việc xóa bỏ quy chế sư phụ đồ đệ

Quy chế sư phụ đồ đệ vốn được coi là một nét đẹp về đạo đức, thế nhưng nhiều khi chuyện tốt đẹp đạt đến đỉnh điểm, được phổ biến lưu hành rộng rãi trong đất nước lại nẩy sinh ra rất nhiều tệ nạn xấu xa, trong giới quyền thì chuyện này càng nghiêm trọng hơn, khiến cho nhiều người trong xã hội cảm thấy khinh ghét. Đối với người học quyền, nếu không tình nguyện đi tìm và nhận thầy thì rất khó nắm được các bí quyết. Còn người dạy quyền thì lại cho rằng học trò không nhận thầy thì chưa đáng để coi là thân thiết, càng không thể truyền thụ các ngón bí truyền, cứ suy ra như thế, dần dần trở thành chuyện hiển nhiên, để rồi biến tướng thành một tệ nạn! Những người không chịu suy xét, bất chấp điều hơn lẽ thiệt, tất nhiên cũng chẳng nắm được ngón bí truyền và chân lý quyền đạo sẽ chẳng được truyền thụ về đâu, ngay cả trong cùng môn phái, họ cũng giữ bí mật cho riêng mình mà không truyền thụ cho người khác, quả thật rất khó hiểu vì sao lại như vậy, đúng là rất đáng xấu hổ về điều này. Sở dĩ quyền đạo không phát triển được, hiển nhiên là có nguyên nhân. Cho đến tận ngày nay, các môn phái dị đạo, các tà thuyết xằng bậy ngày càng lan rộng, ngày càng trở nên tệ hại, thật đáng buồn! Tại sao ý nghĩa chân chính của quyền đạo có thể nói xứng ngang tầm với đạo lý làm người, cũng có thể nói sâu sắc tinh túy như đạo đời. Nếu ai đó không hiểu rõ đạo lý mà đi theo học, thì cho dù có bỏ cả đời ra cũng không đạt được kết quả như ý muốn. Còn nếu theo học đúng theo đạo lý, thì những điều học được, vận dụng suốt đời vẫn không hết, và cũng chẳng có điều gì cần phải giữ bí mật cả. Trong xã hội loài người, mọi người nên coi nhau là đồng bào đồng chí, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, nếu làm trái lại sẽ khiến loài người bị hủy diệt, bạn sẽ là người duy nhất sống sót, điều này cho chúng ta thấy tính ích kỷ và tham vọng đã đạt đến đỉnh cao, cứ như vậy thì sẽ có kết cục ra sao, tôi e rằng hạnh phúc của loài người sẽ bị tan biến hết. Đất nước suy vong, dân tình chìm đắm, mọi mặt đều thua kém người ta, các tệ nạn cũng từ đó mà phát sinh, huống hồ học thuật vốn là tài sản chung của loài người từ xa xưa tới ngày nay, lẽ ra không nên có sự phân chia theo lãnh thổ. Càng không nên bó hẹp trong một đất nước hoặc một dòng tộc, người trong một nước một cộng đồng không nên có sự phân biệt kỳ thị, ngay cả những người khác quốc tịch, khác cộng đồng cũng nên coi như anh em, học thuật không bị giới hạn bởi đường biên giới quốc gia, ai cũng sinh ra và lớn lên dưới ánh nắng mặt trời, chẳng có gì phải bí mật với nhau cả, nhưng nếu vận dụng bí mật đó để thực hiện ý đồ xấu xa, thì là việc không nên làm. Còn về vấn đề truyền bá quyền thuật, nguyên tắc là không nên từ chối ai cả, với những người có quan hệ tốt, khi họ đã tìm đến thì nên dạy ngay, mà đã dạy thì phải tận tâm tận lực, hỏi gì nói nấy, và nói đầy đủ nội dung ý nghĩa. Người học không thể lĩnh hội được nếu dạy qua loa cho xong chuyện hoặc là cố ý không để người học lĩnh hội. Vì thế trong từng khóa huấn luyện, có người theo học nhưng không thu hoạch được gì, hay chỉ ghi nhận hiểu biết nhưng không thấy vận dụng vào hành động, thì quả là đáng tiếc và đáng hận lắm thay! Chỉ có cá biệt một đôi người vừa học được đạo lý và biết áp dụng vào hành động, trong khi hành động lại hiểu biết thêm được nhiều điều, thật đáng kiêu hãnh tự hào về điều này, vì vậy phải có tấm lòng cao cả để mang lại niềm vui cho mọi người, từ đó tạo ra niềm vui cho chính mình, cho dù chưa được nếm trải cương vị sư phụ. Trong mối quan hệ giao tiếp giữa người với người, phải nâng cao tinh thần, coi trọng tình cảm. Nếu thực sự có tài năng thì nên truyền thụ cho người khác, mặc dù không đứng ở cương vị người thầy, thì vẫn giúp ích cho đời rất lớn. Nếu ai đứng ở địa vị người thầy, nhưng lại không làm việc truyền thụ bằng cái tâm cái đức của mình, thì cũng chỉ vô ích mà thôi. Cho dù không còn danh nghĩa sư phụ, thì bản thân cũng chẳng thua thiệt khi đã tạo ra hiệu quả thực chất. Nếu dùng các bài quyền ngụy tạo hoặc học thuyết quàng xiên để hù dọa thiên hạ, dựa vào đó để chiêu nạp học trò đến nhận thầy, khi người sáng suốt hiểu rõ rằng đó là trò lừa bịp thì họ sẽ cảm thấy rất căm ghét và bỏ đi, đến khi đó còn thích làm thầy cũng chẳng được, tuy danh nghĩa sư phụ vẫn tồn tại nhưng thực chất đã mất. Khi đã xác định rõ danh phận sư phụ và đồ đệ, cũng đồng nghĩa với quan niệm bên trọng bên khinh, cao quý và thấp hèn, cho dù đồ đệ cảm thấy sư phụ nói sai, thì cũng không dám làm trái lời vì sợ làm mất thể diện của sư phụ, hay có liều lĩnh phản đối thì sư phụ cũng kiên quyết phản bác để bảo vệ sự tôn quý của mình, mà không chịu tự sửa mình. Như vậy thì còn có gì đáng bàn đối với đạo nghĩa học thuật nữa? Có nghĩa là quy chế sư phụ đồ đệ không đem lại lợi ích cho quyền đạo, chỉ cần xem qua cũng đủ biết. Huống chi lại còn xảy ra tranh chấp giữa các môn phái với nhau, cuộc chiến ngày càng khốc liệt thường được duy trì tiếp nối theo các thế hệ sư phụ và đồ đệ, kết quả của cuộc tranh giành xâu xé là kẻ thắng trở thành ông chủ, kẻ thua trở thành đầy tớ, các thế hệ sư phụ đã tạo dựng thành môn phái, và chính sự chia rẽ giữa các môn phái đã khiến cho lý luận học tập càng trở nên rối rắm phức tạp, cứ như thế thì không biết đến bao giờ ý nghĩa chân chính của quyền đạo được thịnh đạt vẻ vang, mà trái lại khiếm khuyết bệnh hoạn ngày càng gây ảnh hưởng trầm trọng hơn. Việc học phải đạt được kết quả nhất định, thì trước sau cũng sẽ có thầy. Ngược lại, cho dù có ba ngàn học trò quỳ lạy, tung hô sư phụ, nhưng học thuật đã cơ bản bị mai một, thì rốt cuộc sư phụ sẽ đi đến đâu, sư phụ tồn tại để làm gì. Cần phải biết rằng học thụât mới là thứ thiêng liêng nhất trong trời đất vũ trụ, từ đó mới có sự tôn vinh người thầy, đó là lý do vì sao tôi đề xuất chủ trương xóa bỏ quy chế sư phụ và đồ đệ. Mặc dù đây chỉ là ý kiến riêng của cá nhân tôi, tuy nhiên những tệ nạn về quy chế sư phụ đồ đệ trong giới quyền thuật đã tích lũy tồn tại từ lâu. Nếu trong ngày một ngày hai không thể xóa bỏ được thì phải thận trọng vạch ra chương trình quy mô to lớn và lâu dài để cuối cùng trau dồi được nét đẹp đạo đức phẩm chất và tri thức của cả hai phía thầy và trò, trước hết thông cảm với nhau sau đó áp dụng vào thực tế, từ đó khắc phục tệ nạn phục tùng mù quáng, đó là giải pháp tương đối thỏa đáng.

19. Kết luận

Việc học quyền không lệ thuộc vào thời gian ngắn hay dài, công phu nông cạn hay sâu sắc, sức khỏe xấu hay tốt, tuổi tác già hay trẻ, càng không lệ thuộc vào giải pháp nhiều hay ít, động tác nhanh hay chậm, danh phận cao hay thấp, mà cốt lõi là vấn đề có thông hiểu nguyên lý học thuật hay không. Khi tập quyền, điều quý giá nhất là có lý chí rõ ràng và tinh thần quyết tâm cao. Một khi đã quyết tâm tạo sức lực, lại có tinh thần tỉnh táo thì nhất định bạn sẽ dễ dàng nắm bắt được và có thể đạt đến mức độ tinh thông, khi đó thì chỉ cần quan sát phương pháp là biết được nội dung tỉ mỉ, thậm chí còn biết có thể dùng phương pháp nào để bổ trợ. Vì đã là bậc giáo sư cho nên tôi đã trình bày nội dung trên đây theo nguyên tắc nhất định và đảm bảo tính chân thực, giúp cho học giả có thể mô phỏng, thể nghiệm thực tế để thấy được sự khéo léo tài tình trong việc kết hợp giữa công sức và tinh thần như thế nào.
Nguyễn Hoàng Quân
taijiquanclub@gmai.com
01287050579
Quan
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 1148
Ngày tham gia: Chủ nhật 21/12/03 14:57

Re: ĐẠI THÀNH QUYỀN LUẬN

Gửi bàigửi bởi apollo » Thứ 4 29/02/12 16:27

Vừa qua em thấy có một số clip ở trên youtube về lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Vương Hương Trai.
Tổng cộng có 5 phần khá dài. đây là phần hai, mọi người theo link để xem đủ cả 5 phần cho vui.
http://www.youtube.com/watch?v=K8wMVidHC2w
Dĩ bất biến, Ứng vạn biến
Hình đại diện của thành viên
apollo
Thành viên tích cực
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 68
Ngày tham gia: Thứ 5 07/09/06 13:29
Đến từ: Vô Cực


Quay về Hình Ý Quyền

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron