Dương-gia thái-cực quyền 37 thức

Dương-gia thái-cực quyền 37 thức

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 18/03/04 11:54

Dự-bị thức

Dự bị thức Thái-Cực Quyền (TCQ) là thế đứng nền tảng, là hỗn-nguyên trạng công tức là công-phu đứng lúc chưa chia âm dương, chưa phân Hư-Thực. Ðây là lúc còn đứng thẳng, thể-trọng còn dồn cho cả hai chân, thoải mái trong thề thư-giãn đứng và sắp sửa di-chuyển trọng-tâm.

Ðem thể-trọng dồn cho chân phải; chân này thành Thực, hơi rùn xuống. Chân trái biến thành Hư, gót trái hơi nhón lên. Ðồng thời hai cổ tay và chỏ hơi cất lên. Cánh tay thành hình cây cung.

Cất bàn chân trái lên, đưa chân trái sang trái một bước,đạp thẳng, mũi chân nhìn về trước mặt (Bắc). Chuyển thể-trọng cho chân trái; chân này thành Thực. Tiếp theo mũi bàn chân phải cất lên quét qua trái và khi song song với bàn chân trai thì đạp xuống. Khoảng giữa hai bàn chân rộng bằng tầm vai. Cả hai chân đều Thực.

Ðây là trạng-thái Thái-Cực chưa chia Âm-Dương, hay "Hỗn-nguyên vô-cực" và cũng là trạng-thái Song-trọng.

CHÚ Ý

Khi chân phải rùn xuống, hai tay giữ Nguyên Không (ở nguyên vị-trí cũ trong không-gian) nên tụ nhiên là hai cùi chỏ sẽ hơi cong. (Nếu tay không giữ thế Nguyên Không mà cũng trùng xuống theo người thì khi chân rùn xuống cánh tay vẫn thẳng.) Hai lưng bàn tay hơi cong, hướng về phía trước, lòng bàn tay nhìn xuống, hơi mở. Các ngòn tay hơi nổi lên, hướng về phía trứơc, không nghênh ngang, không khép nép.


Lúc đứng lên đầu phải ngay ngắn, mắt nhìn về phía trước, nhãn thần nên thu-liễm, tai lắng nghe hơi thở, lưỡi liếm vòm miệng, miệng ngậm môi khép, vai chùn chỏ thõng, ngực ngậm để cho khí rót xuộng đan-điền. Trong ngoai đều buông xả, toàn thân chỗ nào cũng cởi mở, một mực tự nhiên, lỏng lẻo. Duy từ huyệt Vĩ-lư (hậu-môn) dến đỉnh đầu phải có ý-khí thông suốt với nhau cốt sao cho trong (tâm-tưởng) và ngoài (thể-chấùt) được hợp nhất. Luyện tập về THỂ (bản-chất) và DỤNG (ứng-dụng) đều bắt đầu từ trạng thái này.

Công-phu luyện tập Thái-cực-qưyền cũng bắt đầu từ đây. Người mới tập nên thực-hành thế đứng này càng nhiều càng tốt.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 18/03/04 11:55

[align=center]
Thức thứ nhất
KHỞI THẾ

(Mặt hướng Bắc)
[/align]

Khởi-thế là bắt đầu tiến-trình Thái-Cực sinh Lưỡng-Nghi: Âm và Dương. Âm là hình, là ở dưới, là đất, cho nên bất động. Dương là khí (vô-hình), là ở trên, là trời, cho nên khinh, thanh (trong và nhẹ), nổi lên trên nên di-động một cách nhẹ nhàng.

1. Trước hết, lấy Ý dẫn KHÍ; khí trầm xuống đan-điền. Khí tràn-trề ở bên trong thân-thể thì tự nhiên hai tay theo khí mà nổi lên (phù). Như vậy là hành khí vận thân. Giai đọan này là Khí hợp thì hình khai (Hít sâu, tự nhiên hai tay vung lên).
2. Lúc hai tay chìm xuống (trầm) thì ngược lại là giai đoạn Hình hợp khí khai (Thở ra từ từ, tự nhiên hai tay rơi xuống).

Từ đây trở đi, việc hành khí vận thân, nổi chìm mở đóng (phù trầm khai hợp) đều chiếu theo nguyên-tắc "Khí hợp hình khai, hình hợp khí khai".

CHÚ Ý

Mục đich chính của thức này là buông lỏng cổ tay, bước đầu của trình tự khai quan đại tiết. Hết thức này thì cổ tay đã có tới 6 lần biến:
1. Từ lúc đứng thẳng ngay ban đầu và chuyển qua xong Dư-bị-thức cổ tay đã biến lần thứ nhất (lưng bàn tay cong, lòng bàn tay nhìn xuống).
2. Từ thức dự-bị trở đi lúc hai canh tay nổi lên , hai lưng cổ tay nhô lên, như từ trong nước nổi lên, các ngón tay rũ xuống là lần biến thứ hai (Hình P2)
3. Ðến khi hai cổ tay lên ngang tầm vai, các ngón tay theo khí duỗi ra, gân không căng không nhũn; đó là lần biến thứ ba (Hinh P3)
4. Lúc thu tay vào, cổ tay và chỏ xếp gấp lại trước ngực thì các ngón tay lại rũ xuống; dó là lần biến thứ tư (Hình P4).
5. Khi hai cánh tay sắp thả xuống, hai cổ tay như chìm vào trong nước, đầu ngón tay như nổi bồng bềnh trên mặt nước; đó là lần biến thứ năm(Hình P5).
6. Hai cánh tay chìm xuống đến ngang hông, ở hai bên đùi tức là trở về vị trí ban đầu của Khởi-thế, bàn tay lại giống như ở Dự-bị thức; đó là lần biến thứ sáu.

Tóm lại, việc chính yều ở Khởi-thế là vận động cổ tay. Giải quyết xong vấn đề buông lỏng ở thức này thì tiết thứ nhất của quan thứ nhất (cổ tay) đã khai-đạt. Từ rày trở đi khí ở cổ tay không bị nghẽn mà liền suốt, như được mỹ-hiệu-hóa bằng danh-từ Mỹ-nhân thủ (bàn tay ngọc).
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 18/03/04 11:59

[align=center]
Thức thứ hai
LÃM TƯỚC VĨ - TẢ BẰNG

(Mặt hướng Bắc)
[/align]

Lãm tước vĩ là tên gọi chung của 4 thế Bằng, Lý, Tê, Án(*) và cũng là 4 thế đặc-trưng của TCQ hay là Tứ chánh pháp TCQ. Trong Quyền-Luận có nói đến hai chữ "trước thục" (tập luyện rành rẽ) tức là nói đến việc tập luyện Thôi-thủ (đẩy tay). Trong Thôi-thủ điều quan trọng là NIÊM, LIÊN, MIÊN, TÙY (dính, liền, dán, theo). Không đâu không dính, qua lại không ngừng. Thôi-thủ là hình-ảnh của Lãm-tứơc-vĩ, vì trong lúc đẩy tay, các cánh tay xoán xít, ràng rịt như ôm lấy đuôi công vậy.

A. Lãm tước vĩ:
• 1. Sau Khởi thế dồn thể-trọng cho chân trái, gập gối tọa thực. Như vậy chân trái Thực, chân phải Hư .
• 2. Xoay eo qua phải (eo chân hay khoeo chân cũng chuyển qua phải), mũi chân phải bật lên tự nhiên theo eo chuyển qua phải. Tay phải cũng theo eo cất lên đưa qua phải, bàn tay ngang nách,. lòng bàn tay nhìn xuống đất. Tay trái theo chân phải đưa qua đùi phải, ngang hông, lòng bàn tay ngửa. Hai tay ở dạng ôm cầu bên phải (lòng 2 ban tay nhìn nhau)
B. Tả bằng:
Chuyển hết thể-trọng qua chân phải, tọa thực chân này. Gót chân trái tự nhiên cất lên.
• 4. Xoay eo qua trái, cất chân trái lên thả một bước về đàng trước bên trái., thả gót trước, mũi bàn chân hỏng khỏi mặt đất .
• 5. Dần dần đạp thực chân trái. Tay trái đồng thời theo eo cất lên, nâng ngang ngực, lòng bàn tay hướng vào trong, chỏ hơi chìm. Tay phải cũng cùng lúc chìm cạnh đùi phải, hơi cong để cân xứng với thực lực của chân trái.

CHÚ Ý!

Ở thức này hai chân ngay ngắn, xương đầu gối trái không quá mũi chân mà chiếu thẳng mũi chân. Ðầu gối bên phải và đùi hơi co lại. Vĩ-lư (mông và hạ bàn) hơi thu lại thì thân mới ngay chính khiến cho thần-khí thông suốtá lên đỉnh đầu. Chân trước 7 phần thực như cây trồng dưới đất, chân sau 3 phần hoạt-lực, đayå tới phía trước.
(*)Bằng: gạt đẩy; đẩy lên là trực-bằng; đẩy ngang là hoành-bằng. Lý: kéo về; kéo ngang là bình-lý. Tê: xô ra bằng 2 cánh tay xếp chéo. Án: xô ra hoặc kéo vào bằng sức hai bàn tay.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 18/03/04 12:01

[align=center]
Thức thứ ba
LÃM TƯỚC VĨ - HỮU BẰNG

(Mặt hướng Ðông)
TIẾP THEO THỨC TRỨƠC (*)

[/align]

• 1. Buông lỏng eo chân phải, xoay eo qua trái lấy đà, đem toàn thể trọng dồn cho chân trái, tự nhiên chân phải cất lên và quét qua trái theo hướng mũi tên.Tay phải lật qua trái, lòng bàn tay ngửa, nép ở hông bên trái.

• 2. Xoay eo qua phải, cất chân phải lên và thả gót phải xuống đúng vị-trí vừa rồi của mũi chân, dần dần đạp gót tọa thực (7 phần thực). Chân trái dần dần biến thành hư, nũi chân theo eo quét về bên phải 45 độ, gập gối tọa thực (3 phần thực).
Ðồng thời chỏ phải cất lên, nâng ngang trước ngực, lòng bàn tay hướng vào trong.
Tay trái, ở tư thế dựng đúng thành chưởng, theo eo đẩy ra phía trước, cùng tay phải tương-đối, ở khoảng giữa ngực và cánh tay phải.
_________________________________
(*) Khi giải-thích mỗi thức kế tiếp đều ghi câu này để nhấn mạnh tính cách "miên man bất đoạn" cuả toàn thể bài quyền. Sở dĩ phải cắt ngang từng thức là để cho việc tập luyện lúc ban đầu dễ dàng hơn mà thôi.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 18/03/04 12:05

[align=center]
Thức thư tư và năm
LÃM TƯỚC VĨ - LÝ TÊ

TIẾP THEO THỨC TRỨƠC
[/align]

LÃM TƯỚC VÌ - LÝ (Mặt hướng Bắc)
• 1. Xoay eo qua phải, eo chân trái hơi di-chuyển về phía trước, góc bên phải. Dồn hết thể-trọng cho chân phải. Hai chỏ theo đà eo hơi hướng ra.
• 2. Liền đó buông lỏng eo, xoay người về trái, gập chân trái xoay về tọa thực; chân phải thành hư. Cánh tay phải phần ngoài đứng thẳng, lòng bàn tay hướng về góc trái. Cổ tay trái theo eo dần dần lật ngửa, nép ở cạnh chỏ phải. Hai tay theo eo rơi xuống, xoay về bên trái phía sau cho đến khi eo không xoay thêm được nữa thì hai tay theo quán-lực duỗi ra hết về bên trái, phía sau. Hai chân vẫn đứng yên.

CHÚ Ý!
Ở thức này cần nhớ 2 điểm:
1. Trứơc sau nhãn-thần đều tùy theo đầu chuyển mà nhìn ngang đàng trước. Eo ngưng xoay thì nhãn-thần cũng vừa thâu.

2. Eo xoay thì tay chuyển-động. Eo ngừng xoay thì tay hết chuyển động, nhưng có chuyển thêm một chút nhờ lực còn sót lại. Chuyển-động theo đà còn lại này gọi là"đãng". Ðãng chưa dứt thì nảy sinh cái động khác. Ðộng là chìa khoá của TCQ. Chính từ động mà có đãng. Ðãng chưa dứt lại tiếp động thì giữa động-đãng và đãng- động tuyệt nhiên không có sự gián-cách nào. Hơi gián cách một chút tức là đã có "đoạn" (đứt) mà nguyên-tắc của TCQ là "miên man bất đoạn". Từ giờ về sau không nhắc lại, nên luôn luôn nhớ rằng bất cứ thức nào hai tay cũng chuyển-động như thế. Cũng đừng quên rằng tay này động thì tay kia tĩnh và ngược lại, cũng giống như một thực một hư vậy.

TIẾP THEO THỨC TRỨƠC (*)
LÃM TƯỚC VÌ - TÊ (Mặt hướng Ðông)
• 1. Lúc hai tay ở thế LÝ (kéo về sau) đang trong tình- trạng đãng thì xoay eo qua phải. Eo chân chuyển về đàng trước bên phải, chân phải dần dần gập gối tọa thực.
• 2. Hai tay lại theo sự khiến-động ( cái động có tính- cách dẫn dắt) của eo chân lại theo đãng trở về. Cánh tay phải cất lên ngang ngực như ở thế Hữu-Bằng. Tay trái vì tương-ứng với thực-lực của chân phải theo eo đẩy tới phía trước, bàn tay trái ấp hờ ở trên .
Tập tin đính kèm

[Đuôi tập tin đính kèm không còn được phép sử dụng và vì thế sẽ không hiển thị.]

Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 19/03/04 13:58

[align=center]Thức thứ sáu
LÃM TƯỚC VĨ - ÁN

(Mặt hướng Ðông)

TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]





1. Liền dồn hết cả thể-trọng cho chân trái, gập gối tọa thực chân này. Ðồng thời hai tay theo eo thâu vào đến hai cạnh sườn, hai bàn tay phân ra hai bên, cách nhau một tầm vai, lòng bàn tay hướng về trước, hai chỏ gần sát thân mình. Ðây là thế ÁN VỀ.

2. Chuyển thể-trọng cho chân phải, gập gối toạ thực. Chân trái theo eo duỗi thẳng ra. Ðồng thời hai tay cũng theo eo đẩy tới phía trứơc, đẩy từ dưới lên. Ðây là thế ÁN RA.



CHÚ Ý

Nhớ là hai tay đẩy ra trước là nhờ động-đãng theo eo, chứ không phải là hai tay tự-động (bất động thủ). Nói cách khác thì sau thức TÊ hai tay giữ vị-trí "nguyên thân", chỉ theo eo mà thâu về hay xô tới (không phải thẳng cánh xô ra, nhìn kỹ hình cánh tay gẫy).Cũng không nên quên là khi xô tới xô lui lưng vẫn thẳng chứ không nghiêng về phía trước, Lưng thẳng.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 19/03/04 14:01

[align=center]Thức thứ bẩy
ÐƠN-TIÊN

(Mặt hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Chuyển thể-trọng cho chân trái, gập gối tọa thực chân này. Ðồng thời hai tay theo eo thu về. Ðến khi cổ tay thấp ngang tầm ngực thì cổ tay không còn gẫy như ở thế ÁN, lòng bàn tay đã úp xuống.

2. Liền đó xoay eo qua trái, mũi chân phải bật lên theo eo quét qua trái 90 độ. Hai tay ở vị-trí nguyên thân, theo eo di chuyển qua góc trái đàng sau. Ðến khi không còn xoay eo qua trái được nữa thì bẻ ngoặt lại.

3. Xoay eo qua phải, chân phải liền gập gối tọa thực. Hai tay lại theo eo đãng về. Eo chân hơi trầm xuống. Bàn tay phải ở kế bên nách phải, ngón tay chúm lại thành móc câu (câu thủ), ngón cái và ngón giữa dính nhau, cắc ngón khác sát ngón giữa, cổ tay lỏng, chỏ hơi chìm (trụy trửu). Tay trái cũng đãng về nép dưới chỏ phải, bên nách phải, cổ tay lật, lòng bàn tay ngửa.

4. Xoay eo trở lại qua trái. Tay phải theo eo (vẫn giữ móc câu) duỗi thẳng về góc phải đằng sau. (Lúc cánh tay phải duỗi ra chính là lúc gót chân phải cất lên, chỉ còn mũi chân chấm đất).

5. Liền cất chân trái lên, hướng về bên trái thả một bước rộng. Gót chân chấm đất rồi dần dần đạp mũi chân xuống tọa thực. Tay trái đồng thời theo eo cất lên ngang vai, bàn tay dựng ngang, đầu ngón tay hướng về bên phải, nhãn thần nhắm vào lòng bàn tay. Cổ tay phải ở dạng móc câu bất động, cao bằng vai nhưng chỏ thì thõng xuống.

6. Khi eo chân phải xoay về bên trái đến lúc bằng ngang với eo chân trái thì đồng thời mũi bàn chân phải cũng theo eo quét về trái 45 độ. Chưởng trái cũng theo eo mà lật. Lòng bàn tay nhìn ra ngoài, cao ngang vai .

CHÚ Ý

Trong thức ÐƠN TIÊN cần thực hiện mấy điểm sau:

1. Ðầu bộ phải thẳng, nhãn thần nhìn ngay trước mặt, giữ đúng các nguyên tắc "vĩ lư trung chính thần quán đỉnh" và khí trầm đan điền vì như đã thấy thể- thế trong thức này rất phức tạp.
2. Ðộng tác của tay hay bàn chân đều phải tùy theo chuyển động của eo, đùi chứ không dùng sức tự chuyển động.
3. Trứơc sau xoay đủ 180 độ, từ hướng Ðông quét qua hướng Bắc rồi về hướng Tây, trong đó có nhiều sự ngừng ngắt cho dễ tập lúc ban đầu. Khi đã thành thuộc rồi thì phải chú trọng đến sự dằng-dặc không dứt (Miên man bất đoạn).
4. Ðây là thức mở rộng nhất của TCQ, một trạm công khai triển. Cần phải chú ý nhiều và tập nhiều thức này.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 19/03/04 14:04

[align=center]Thức thứ tám
ÐỀ-THỦ

(Mặt hướng Bắc)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Tọa thực chân trái, chân phải biến thành HƯ. Liền đó, xoay eo qua trái, gót chân phải tự nhiên cất lên và quét qua bên trái. Tay phải buông móc câu ra và (theo eo) buông lỏng chìm xuống. Tay phải cũng buông lỏng chìm xuống, lòng bàn tay nhìn trước tương đối với bàn tay phải.

2. Bây giờ xoay eo qua phải cất chân phải lên, dời ngang qua trái đằng trứơc nửa bước, gót chân phải chấm đất, cùng với chân trái làm thành hình chữ Ðinh (hai bàn chân thẳng góc). Khoảng cách giữa hai chân chỉ còn bằng nửa tầm vai. Hai cánh tay theo eo thâu hợp: Tay phải gần như giữ nguyên thế cũ (nguyên thân). Tay trái theo eo đãng động đưa lên. Bàn tay trái ngang tầm chỏ phải. Lòng hai bàn tay nhìn nhau.


CHÚ Ý

Ở thức này cần nhớ 2 điểm:

1. Sở dĩ tay trái cất lên được, một phần là nhờ khí trầm đan-điền khiến tay nổi lên như ở Khởi thế, một phần là nhờ sức bật của eo khi hơi ngả lưng ra sau. Giữ đúng nguyên tằc bất động thủ mà lại cất được tay lên như ở thức này, cũng như ở Khởi thế và Lý (tiếp theo thức Bảo hổ quy sơn) là việc rất khó. Phải tập luyện lâu mới đạt được. Tự nhiên mỗi người sẽ cảm nhận được sự bồng-bềnh trôi nổi . Cảm thấy tay mình có thể nổi lên (phù) là một điều rất thích thú, còn việc thả cho hai tay tự nhiên rơi xuống (trầm) là điều không khó khăn gì.

2. Khi hai chân cách nhau một bước lớn (khoảng 70-80 cm) thì hai bàn chân tạo thành góc 45 độ. Nhưng khi hai chân gần nhau hơn (về chiều dài cũng như về chiều ngang) thì hai bàn chân tạo thành góc 90 độ.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 19/03/04 14:07

[align=center]Thức chín - mười
KHÁO (KHUYNH THÂN)

(Mặt hướng Bắc)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Tọa thực chân trái. Xoay eo qua trái, chân phải thu về, đồng thời tay phải rơi xuống. Tay trái cũng theo đó chìm xuống cạnh đùi trái.

2. Liền đó cất chân phải lên thả thẳng ra trước một bước, dồn tới dần dần tọa thực chân này. Chỏ phải hơi hướng ra ngoài thành hình cây cung. Lòng bàn tay phải nhìn vào trong. Bàn tay trái phụ hờ ở chỏ phải.

3. Nghiêng người xô vai về phải. Thức này đánh bằng vai phải, cũng có tên là KHUYNH THÂN.

[align=center]BẠCH HẠC LƯỢNG XÍ
(Mặt hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Tọa thực chân phải. Xoay eo qua phải, chân trái biến thành HƯ, gót trái cất lên, mũi trái vẫn chấm đất. Tay phải hơi vung qua phải. Ngón tay trái rời khỏi chỏ phải, và cánh tay trái từ từ rơi xuống (như là không còn được vịn vào tay phải nữa).

2. Xoay eo qua trái, chân trái cất lên kéo rê qua phải. Nhấn sức chân phải, tự nhiên tay phải hất lên theo đà nhấn và theo eo. Bàn tay phải dừng lại che đỡ ở góc trán bên phải, lòng bàn tay hướng ra trước, bên phải. Tay trái rơi xuống làm thành thế vuốt gối, che bụng dưới, phụ ở bên đùi trái.

CHÚ Ý

Thức này đánh bằng tay phải, nhưng tay không tự-động đánh lên (bất động thủ) mà nhờ sức bật của eo và đùi. Ðiều này sẽ được chứng nghiệm khi tập.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 19/03/04 14:11

[align=center]Thức mười một
TẢ LÂU TẤT ẢO BỘ

(Mặt hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Tọa thực chân phải, chân trái biến thành hư. Xoay eo qua phải. Tay phải theo eo chìm xuống đùi phải, tay trái cũng theo eo hơi di chuyển qua bên phải

2. Xoay eo tiếp qua phải phía sau thì hai chỏ cũng theo sự xoay chuyển đó mà đãng theo. Hai chân bất động.

3. Tiếp theo liền cất chân trái lên thả một bước qua bên trái đằng trước, gót chân chấm đất. Xoay eo qua trái. Tay phải theo eo về đằng sau bên phải từ dưới đi vòng lên vẽ một vòng tròn lớn , lòng bàn tay úp sau tai phải. Tay trái cũng theo eo đãng qua bên phải thủ thế ở bụng dưới, bên phải.

4. Liền dồn thể trọng cho chân trái. Xoay eo tiếp qua trái, tay phải theo eo đâm ra đàng trước, thõng chỏ (trầm trửu), bàn tay dựng hướng về đàng trước án ra. Ðồng thời mũi bàn chân phải hơi bật lên theo eo quét vào 45 độ. Tay trái che bụng dưới, vuốt qua gối trái, nép ở cạnh đùi trái

CHÚ Ý

Ở thức này , cánh tay phải thả thật lỏng cho xoay theo trục vai (như tay búp-bê đã nói ở trên) cho rơi xuống thật hết rồi nhờ đãng động mà vung lên ngang vai. Tay trái vuốt gối (lâu tất) là ảo bộ. Thực ra đánh bằng tay phải, đánh vòng tròn từ sau ra trước, từ dưới đánh lên.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 19/03/04 14:12

[align=center]Thức mười hai
THỦ HUY TỲ-BÀ

(Mặt hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]



1. Theo đà đánh tới trước của TẢ LÂU TẤT ẢO BỘ dồn lực cho chân trái thì tự nhiên chân phải cất lên khỏi mặt đất (mũi bàn chân cách mặt đất hơn một tấc). Hai chỏ chưa có chuyển động gì đáng kể.

2. Hết đà, chân phải rơi xuống đất trở lại, bàn chân phải thẳng góc với chân trái. Thể trọng dồn hết trên chân phải (Thực), chân trái theo eo (xoay qua phải) đưa qua phải và thu về hơn một tấc, gót chân chấm đất.

Ðồng thời tay phải theo eo thu về và dừng ở trước sườn phải, lòng bàn tay nhìn sang trái. Tay trái cũng cất lên, lòng bàn tay nhìn sang phải. Chỏ trái và bàn tay phải cao ngang nhau. Hai tay làm thành dạng ôm đàn tỳ bà .

CHÚ Ý

Ở thức ÐỀ THỦ tay phải cao hơn tay trái. Ở thức này tay trái cao hơn tay phải.Cả hai thức đều ở tư thế sẵn sàng, nếu lật một tay ép xuống và nâng tay kia lên thì có thể bẻ gẫy tay địch thủ.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi tothy » Thứ 4 05/05/04 19:34

Chào Bạn Thanhems , 37 thức mà viết lên 12 thức thôi là không viết nửa , làm mọi người dều trông nón mà chẳng thấy đâu cả , Xin Bạn viết tiếp các thức còn lại đi , Bài viết thì rất là tỷ mỹ , phân thế rỏ ràng , mất 2/3 thức thì thật uổng đó , " Dã tràn Xe cát biển đông " .
chào
Hình đại diện của thành viên
tothy
Senior Member
Senior Member
 
Bài viết: 604
Ngày tham gia: Thứ 6 30/01/04 16:51

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 06/05/04 7:58

[align=center]Thức mười ba
TẤN BỘ BAN LAN CHÙY

(Mặt hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC [/align]

1. Dồn sau, tọa thực chân phải. Xoay eo qua trái , mũi chân trái tự nhiên bật lên quét qua trái 45 độ. Ðồng thời tay phải chìm về bên trái cạnh hông trái, bàn tay nắm lại thành quả đấm.

2. Liền dần dần tọa thực chân trái, chân phải bước lên trước chân trái nửa bước), hai bàn chân tạo thành góc vuông

3. Xoay eo qua phải, liền tọa thực chân phải .
Cất chân trái bước lên trước chân phải một bước lớn về đàng trước (TẤN BỘ), bên trái, gót chân chấm đất.

Ðồng thời lật quả đấm phải, hổ-khẩu (chỗ khe ngón cái và ngón chỏ) nhìn lên, nép ở hông phải. Như thế gọi là BAN. Tay trái, bàn tay như chém, theo eo hướng về đàng trước như ngăn như cắt. Ðộng tác này gọi là LAN.

4. Dồn trước, tọïa thực chân trái, xoay eo qua trái trở lại, quả đấm tay phải theo eo xung kích về đàng trước. Ðộng tác này gọi là CHÙY. Bàn tay trái che trên tay phải, giữa cổ tay và chỏ.



[align=center]Thức mười bốn
NHƯ PHONG TỰ BẾ

(Mặt hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Liền đó xoay eo qua trái, quả đấm phải (Quyền) mở ra thành chưởng theo eo chuyển vè bên trái. Bàn tay trái cũng lật ngửa theo eo rơi xuống che chở chỏ phải. Chân chưa di động.

2. Dồn sau, chuyển thể trọng cho chân phải, buông lỏng eo, gập gối tọa thực. Hai chỏ rơi tiếp về sau, bàn tay phải lui về sau bên trái, bàn tay trái đi lên ven theo cánh tay phải. Trông như hai cánh tay xếp lại và bắt chéo nhau. Như vậy gọi là PHONG (đậy lại).

3. Dồn trước, thể trọng chuyển qua chân trái, hai bàn tay theo eo rẽ ra, lật úp, xô tới làm thành dạng ÁN RA. Như thế gọi là BẾ (đóng lại)

CHÚ Ý

Ở thức này cần tránh lỗi lầm thông thường là lấy sức thu hai tay về rồi đẩy tay ra. Tập sao để hai tay tự nhiên lui tới theo sự vận chuyển của eo và lưng.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 5 06/05/04 8:01

[align=center] Thức mười lăm
THẬP TỰ THỦ

(Mặt hướng Bắc)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC [/align]



1. Dồn sau, chuyển thể trọng cho chân phải, gập gối tọa thực chân này, mũi chân trái tự nhiên cất lên. Xoay eo qua phải (hướng chính: Bắc), mũi chân trái quét qua phải theo đà kéo của eo, đạp thẳng. Hai tay dần dần theo eo vén mở ra hai bên, giăng ngang vai.

2. Liền chuyển thể trọng cho chân trái, chân phải biến thành hư. Hai cánh tay theo eo mà chìm xuống, hai lòng bàn tay nhìn xuống đất

3. Liền thu chân phải về ngang chân trái, đạp thẳng. Hai bàn chân giống như ở KHỞI THẾ. Hai tay vẫn tiếp tục thu về và theo đà đãng động vung lên ngang ngực, hai cổ tay giao nhau, trái trên phải dưới, thành hình chữ Thập

CHÚ Ý

Hai bàn chân song song, nhưng không ở tình trạng song trọng, hình chân không vẽ ngũ phần thực mà vẽ tam phần thực. Như vậy có nghĩa là ở thức THẬP TỰ THỦ này hai bàn tay vừa kịp giáp nhau thì sẽ chuyển ngay sang thế kế tiếp (BẢO HỔ QUI SƠN), thể trọng dồn ngay cho chân trái để bắt đầu chuyển thế. Xem tiếp thức16
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi tothy » Thứ 6 07/05/04 16:23

Rất cám ơn Bạn Thanhems
Hình đại diện của thành viên
tothy
Senior Member
Senior Member
 
Bài viết: 604
Ngày tham gia: Thứ 6 30/01/04 16:51

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 6 07/05/04 16:57

Bác Tothy thông cảm nhé, do nhiều việc nên lúc nào rảnh sẽ tiếp tục post tiếp.
chúc mọi người vui vẻ
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Chủ nhật 09/05/04 8:46

[align=center]Thức mười sáu
BẢO HỔ QUY SƠN

(Mặt hướng Ðông Nam)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Liền xoay eo qua trái, chuyển thể trọng cho chân trái, chân phải biến thành hư tự nhiên cất gót lên quét về bên trái trong khi eo chân chuyển về đằng sau bên phải. Hai cổ tay theo eo buông rơi chìm xuống. Tay trái chìm xuống trước.

2. Xoay eo qua phải, đưa chân phải về đằng sau, bên phải bước một bước lớn. So với bàn chân trái, bàn chân phải đã di chuyển qua một góc 135 độ. Gót chân phải chạm đất. Tay trái theo đà xoay của eo, từ đằng sau bên trái phía dưới đi vòng lên trên thủ thế ở cạnh tai trái. Tay phải chìm xuống vuốt gối phải.

3. Ðem thể trọng dồn cho chân phải, chân này dần dần tọa thực. Ðồng thời theo eo (xoay qua phải) tay trái đâm ra đằng trước, trụy trửu như đang sẵn sàng. Tay phải vuốt gối rồi hướng về bên phải đàng sau vẽ một vòng, lòng bàn tay ngửa nhìn nghiêng qua trái, nép cạnh đùi phải, thành dạng ôm hổ (Bảo hổ).

CHÚ Ý

Muốn chuyển chân phải một bước lớn với góc độ lớn như vậy (135 độ) cần lưu ý:

1. Chân trái phải rùn xuống trụ thật vững

2. Treo chân phải lên, xoay eo chân qua phải 45 độ rồi đưa chân ra đàng sau (thêm 90 độ) và thả gót xuống là đủ 135 độ. Nếu chỉ treo chân lên rồi xoay eo chân đủ 135 độ trước khi thả gót thì lúc mới tập rất dễ té ngã. Ðiều này có thể thực hiện được sau khi đã luyện thành thục thức này. Ở hai thức NGỌC NỮ XUYÊN THOA 2 và 4 sau đây cũng phải thực hiện một bước dài và rộng như thế này, sẽ không nhắc lại sự lưu ý trên đây.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Chủ nhật 09/05/04 8:48

[align=center]Thức mười bẩy
TRỬU ÐỂ KHÁN CHÙY

(Hướng Tây)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]

1. Dồn sau, chuyển thể trọng cho chân phải, gập gối toạ thực chân này.Tay móc câu buông ra thành chưởng và giữ nguyên-không. Bàn tay trái hơi chìm xuống theo eo xoay về phải.

2. Cất chân trái lên thả về bên trái một bước, gót chân chấm đất

3. Liền chuyển thể trọng cho chân trái, tọa thực chân này. Xoay eo qua trái. Theo sức kéo của eo tự nhiên chân phải cất lên kéo về trước một bước về bên phải, mũi chân phải và gót chân trái ở trên môt đường thẳng. Hai cánh tay đi vòng theo eo.

4. Liền tọa thực chân phải. Xoay eo qua phải. Hai tay di chuyển theo eo. Ðến khi tay phải tới ngay trước mặt thì bàn tay lật nghiêng, lòng bàn tay nhìn xuống bên trái và tay trái di chuyển đến cạnh đùi trái thì vẽ thành một vòng tròn nhỏ, lật cổ tay, lòng bàn tay nhìn lên bên trong.

5. Vì eo xoay qua phải, chân trái liền dời về đằng trước, gót chân chấm đất. Tay trái theo đó đâm lên trước ngực, bàn tay dựng, lòng bàn tay nhìn về bên phải . Cánh tay phải thu về, nắm thành quả đấm dưới chỏ trái. Gọi là quả đấm dưới chỏ (trửu để khán chùy) .

CHÚ Ý

Ở thức này sự chuyển động của cả tay và chân đều phức tạp. Chân phải và chân trái đều được kéo lên theo eo. Hai tay cũng thế. Cố gắng đừng co chân bước tới và nhớ nguyên tắc Bất động thủ.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 3 11/05/04 17:13

[align=center]Thức mười tám-mười chín
ÐẢO LIỄN HẦU

(Hướng Tây)

TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]



Ðảo liễn hầu - Hữu thức

1. Xoay eo qua bên phải mé sau, quyền phải buông ra theo eo chân mà đưa về bên phải đàng sau. Chưởng trái theo đó chìm xuống, bàn tay úp. Hai chân vẫn bất động.

2. Tay phải theo đà vặn eo từ dưới đi lên, vẽ một vòng tròn lớn rồi úp chưởng về tai phải. Ðồng thời tay trái xoay chuyển, lòng bàn tay ngửa

3. Liền đưa chân trái lui thẳng phía sau một bước. Mũi chân chấm đất trước. Dần dần gập gối tọa thực. Ðồng thời mũi bàn chân phải bật lên quét qua trái, hai bàn chân song song, khoảng cách bề ngang vẫn bằng một tầm vai.

Các ngón tay phải theo eo (xoay qua trái) mà đâm thẳng ra trước. Tay trái theo eo chân thu về nép ở cạnh đùi trái, lòng bàn tay ngửa.

CHÚ Ý

Chỉ có ở thức Ðảo liễn hầu hai bàn chân trước sau mới song song.


Ðảo liễn hầu - Tả thức

1. Liền xoay eo qua bên trái đàng sau, cánh tay phải theo eo duỗi thêm về đàng trước độ 5 tấc hơn (tấc Tầu).

Tay trái theo eo ở đằng sau bên trái từ dưới đi lên vẽ một vòng tròn lớn đến cạnh tai trái, lòng bàn tay úp, đồng thời cổ tay phải cũng lật ngửa.

2. Liền lui chân phải về sau một bước lớn trên đường thẳng, mũi chân chấm đất trước, dần dần gập gối tọa thực. Ðồng thời tay phải theo eo chân thu về nép ở cạnh đùi phải, bàn tay ngửa. Tay trái cũng cùng lúc theo eo chân xoăy chuyển (qua phải) mà đâm về trước. Lúc eo đã yên tịnh thi chưởng phải cũng về xong và chưởng trái ở thế sẵn sàng (Hình chính .



Ðảo liễn hầu - Hữu thức

1. Liền xoay eo qua phải đàng sau, tay phải theo đó từ dưới đi vòng lên, che ở kề tai phải, lòng bàn tay úp. Ðồng thới tay trái duỗi ra thêm về đàng trước cỡ môt tấc hơn, rồi cũng xoay cổ tay một lượt với tay phải, lòng bàn tay ngửă. Hai chân vẫn bất dộng.

2. Liền lui chân trái về sau một bước lớn trên đường thẳng. Các động tác khác cũng giống như trên. Hai chân bất động.
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Gửi bàigửi bởi thanhems » Thứ 4 19/05/04 13:40

[align=center]Thức hai mươi
TÀ PHI THẾ

(Hướng Ðông Bắc)
TIẾP THEO THỨC TRƯỚC
[/align]



1. Buông lỏng eo phải, tương hợp với chân trái, tay phải theo đó chìm xuống cạnh đùi trái, bàn tay ngửa.
Tay trái xoay lật lên, bàn tay úp kề nách trái, cùng với tay phải làm thành dạng ôm cầu.

2. Liền xoay eo qua phải, eo chân phải xoay chuyển qua bên phải đàng sau. Xoay người qua phải, chính hướng Bắc (90 độ), chân phải đưa qua phải thêm 45 độ nữa rồi thả xuống thành một bước lớn (chân phải đã chuyển qua một góc 135 độ), gót chân phải chấm đất. Ðồng thời vì eo xoay qua phải nên tay trái đi ra sau, tay phải dần dần cất lên tới ngang phần trong của cánh tay ngoài tay trái.

3. Liền gập gối toạ thực chân phải. Tay phải khai triển theo eo chân đánh từ dưới đánh lên. Bàn chân trái cũng theo eo chân quét qua phải. Bàn tay trái chìm xuống kề đùi trái. Hai tay làm thành thế bay xéo (tà phi) .

CHÚ Ý

Trong thế bay xéo, tay phải bay lên nhờ sức bật của eo khi chuyển thể trọng cho chân phải; còn tay trái cũng theo eo mà chìm xuống một cách tự nhiên. Không phải là dùng lực đánh chéo hai tay (bất động thủ).
Hình đại diện của thành viên
thanhems
Super Administrator
Super Administrator
 
Bài viết: 272
Ngày tham gia: Thứ 3 09/12/03 18:56

Trang kế tiếp

Quay về Môn phái khác

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron